|

Cuối năm
2004, khi nhắc đến cuộc chiến tranh đã lùi xa gần ba mươi
năm, Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu : "
Nhiều sự kiện khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng
có hàng triệu người buồn ". Lúc đó, không phải ai cũng
chia sẻ với ông suy nghĩ ấy. Bài trả lời phỏng vấn có câu
nói này đã phải nằm chờ trong tòa soạn báo Quốc Tế
hơn bốn tháng. Những ai biết những nỗi đau cá nhân mà ông
Kiệt từng chịu đựng, mới thấy, đây không chỉ là ý kiến của
một nhà chính trị, đây còn là sự sẻ chia rất đỗi con người.
Hôm qua,
15-6, ông đã " phục tùng tổ chức " để về yên nghỉ tại nghĩa
trang Thành phố. Trong thâm tâm, ông muốn tro của mình được
rải xuống khúc sông mà hai người con và người vợ yêu quý
nhất của ông đã mãi nằm lại đó.
Đầu năm
năm 1966, khi người con trai út, Phan Chí Tâm, vừa được sanh
ra ít lâu, vợ ông, bà Trần Kim Anh, muốn cho ông biết mặt
con, đã bế Tâm và dắt theo cô con gái Phan Thị Ánh Hồng,
sinh năm 1958, ra chiến khu thăm chồng. Từ Sài Gòn, bà Tư
Cách, một cơ sở của ông dẫn bà Kim Anh đi theo đường sông,
lên tới đoạn, bên này là Củ Chi, bên kia là Bến Cát thì
chuyến tàu khách của họ bị ném bom. Họ chết mà chưa bao giờ
tìm thấy xác.
Đầu năm
nay, ông viết, " tôi có cảm giác như vợ và các con đang
đợi tôi ". Bác sỹ riêng thời chiến tranh của ông, ông
Huỳnh Hoài Nam, kể : " Trong suốt những năm ở trong rừng,
ông luôn mang theo một tấm hình và hai bộ đồ của vợ ".
Sau ngày 30-4, khi tình hình tạm ổn, ông đã tìm đến khúc
sông ấy, đứng nhiều giờ để cố tìm xem, vợ và các con ông
đang thực sự yên nghỉ ở đâu. Bác sỹ Nam nói: " Trên đường
về, hàng giờ, ông không nói một lời nào cả ".
Sau khi
nghe tin mẹ mất, con trai lớn của ông là Võ Dũng, sinh năm
1951, khi ấy đang cùng với em gái, Võ Hiếu Dân, sinh năm
1955, học ở Hà Nội, nằng nặc đòi được vào Nam. Trung ương có
điện thoại cho ông. Ông đồng ý. Trong thâm tâm, ông cũng
muốn có chút ruột rà máu mủ ở bên mình.
Võ Dũng
là một thanh niên ngang bướng, làm lính cơ quan " Khu Bộ "
thì rất " ngứa ngáy chân tay ". Dũng nói : " Con đâu phải
vào đây để đào hầm cho ba ". Bác sỹ Nam tâm tình : "
Dũng, em về đây làm gì ? " Dũng trả lời : " Chiến đấu
". " Em không thấy bọn anh cũng đang chiến đấu sao ?
" " Có, nhưng cứ toàn chiến đấu trong xó không à ".
Bác sỹ Nam đành phải nói lại với ông Kiệt. Ông đồng ý. Về
đơn vị chiến đấu, Võ Dũng nhất quyết đòi phải được bổ vào bộ
phận trinh sát. Sáu tháng sau, trong một lần trinh sát một
đồn địch nằm trong vùng quê mẹ, Rạch Giá, Võ Dũng hy sinh.
Năm ấy, anh chỉ mới vừa tròn 20 tuổi.
Không ai
biết được ông đã chịu đựng mất mát ấy như thế nào. Trước ba
quân, ông vẫn mạnh mẽ như không có chuyện gì. Nhưng, đêm về,
bác sỹ Nam kể, thì nỗi cô độc không thể nào kể xiết. Ông
lặng lẽ một mình, kêu bác sỹ Nam, " Cho tao ly chà và
", từ ông dùng để chỉ cà phê đen. Bác sỹ Nam nói : " Tôi
đưa cà phê cho ông và biết, lại thêm một đêm ông không ngủ
".
Nhưng,
theo bác sỹ Nam, " Hình như trời đất vẫn còn ngó tới ông
ấy ". Qua năm sau, 1972, Trung ương Hội Phụ nữ điện vào
báo cho ông là đã tìm được người con trai sinh năm 1952,
Phan Thanh Nam. Đây là người con trai mà ông có được trong
lần ra Bắc hồi năm 1951. Trở lại miền Nam, ông Võ Văn Kiệt
kể : " Tôi nói hết với vợ. Bà ấy nghe, cũng buồn nhưng
không trách móc gì. Bà ấy thỉnh thoảng lại nhắc, phải tìm
được thằng Nam về ".
Mỗi lần
cứ có người ra, ông Võ Văn Kiệt lại nhắn nhờ tìm Phan Thanh
Nam. Năm 1972, bà Bảy Huệ, phu nhân của Cố Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Linh, người, năm 1959, đưa Võ Dũng và Hiếu Dân ra
Bắc và chăm sóc, đã tìm được Nam về cho ông. Ngày cha con
gặp nhau, ông đang ở một căn cứ gần kênh Biện Nhị, xã Khánh
Lân, Cà Mau.. Ông đợi con, lâu lâu lại hỏi : " Nó tới đâu
rồi ? ". Gặp nhau, bác sỹ Nam kể : " Hai cha con ôm
nhau nửa tiếng, không nói một lời, rồi cả hai cùng khóc.
Chúng tôi, cũng ra phía sau, ngồi khóc ". Ông Võ Văn
Kiệt nói : " Tôi kể cho Nam về vợ tôi. Nó nghe rồi nói,
'con nhận mẹ của Hiếu Dân và anh Dũng làm mẹ'. Tôi cũng
nói rõ với Hiếu Dân nhưng chủ yếu là để cho hai đứa hiểu
nhau một cách tự nhiên. Tôi rất mừng, giờ tụi nó quý nhau
lắm ". Sáng 15-6, khi đọc lời cảm tạ của gia đình, con
trai ông, Phan Thanh Nam, đã không quên nhắc đến những người
đã khuất : " Chúng con xin cám ơn Má, anh Hai và các em,
đã vĩnh viễn ra đi trong cuộc chiến tranh, để lại tình
thương yêu vô bờ bến ". Tôi đã không ít lần gặp chị Võ
Hiếu Dân, người con duy nhất còn lại của bà Trần Kim Anh, hy
vọng nghe từ chị những ký ức về mẹ mình. Nhưng, chưa bao câu
chuyện có thể tiếp tục. Cho tới tận bây giờ, chị Hiếu Dân
vẫn không thể nào cầm được nước mắt mỗi khi nhắc về mẹ.
Gần đây,
ông đã có rất nhiều nỗ lực giúp đỡ việc tìm lại hài cốt của
những người chết trong thời gian học tập cải tạo ; gặp gỡ
lãnh đạo hai địa phương, Bình Dương và TP HCM để bàn về vấn
đề nghĩa trang của những người lính Sài Gòn cũ. Mấy năm
trước, khi cô cháu ngoại mang về cho ông mấy cuộn phim do
người Việt ở nước ngoài làm về những thuyền nhân vượt biên
trong những năm sau 75, ông xem, xúc động và có rất nhiều
trăn trở.
Khi ông
nói, " yêu nước có thể bằng nhiều con đường ", là ông
nói bằng chính từ nỗi đau của mình. Có rất nhiều người đã
từng phải bỏ nước ra đi chỉ vì họ yêu nước bằng một con
đường khác. Không phải ngẫu nhiên mà ông nhấn mạnh : " Tổ
quốc là của mình, dân tộc là của mình, Việt Nam là của mình,
chứ không phải là của riêng bất cứ tôn giáo hay phe phái nào
cả ".
Từ năm
1995, ông đã kiến nghị : " Trên chặng đường mới này của
đất nước, hơn bao giờ hết cần giương cao ngọn cờ dân tộc và
dân chủ ". Trong buổi làm việc cuối cùng, chiều 23-5,
ông nói với tôi về ý định sẽ viết chung một cuốn sách với
một người đã từng là quan chức cao cấp trong chế độ Sài Gòn.
Ông coi đó như là một biểu tượng của tinh thần hòa giải. Năm
1997, khi vừa nhận chức, trong một cuộc phỏng vấn dành riêng
cho tôi, Thủ tướng Phan Văn Khải nói : " Về bản lĩnh
chính trị, tôi không thể nào so sánh với đồng chí Võ Văn
Kiệt ".
Từng là một nhà lãnh đạo chiến tranh xuất sắc, đúng như lời
Thủ tướng Phan Văn Khải, ít ai có thể so sánh bản lĩnh chính
trị với ông. Tuy nhiên, bản lĩnh chính trị của Võ Văn Kiệt
không phải là những giá trị giáo điều. Chính trị " tối cao "
đối với ông là " Dân ". Điều gì có thể đoàn kết mọi người
dân Việt Nam. Điều gì có thể nhanh chóng đưa lại cơm no áo
ấm cho mọi người Việt Nam là ông chủ trương. Ông Võ Văn Kiệt
đề nghị " giương cao ngọn cờ dân tộc " không phải từ một ý
tưởng xuất hiện tình cờ. Ông đúc kết điều đó qua sự trải
nghiệm bằng máu của chính ông, của những đứa con, của người
vợ mà ông vô cùng yêu dấu. |
|
|