Điểm khởi đầu nhưng không tận cùng của  tư tưởng Phan Châu Trinh

      

Dân Quyền Online

 

 

 

          Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt   

           Không ai có thể phủ nhận tinh thần yêu nước của các sĩ phu trong Phong Trào Cần Vương. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế Phong Trào Cần Vương không thể đáp ứng được nhu cầu đánh đuổi thực dân lúc bấy giờ. Mặc dầu ở Quảng Nam chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu tức Hường Hiệu và cụ Trần Dư đã huy động được sự hỗ trợ từ các sĩ phu và quần chúng xứ Quảng tham gia phong trào. Thế nhưng, một cuộc cách mạng thành công ở giai đoạn lịch sử ấy, ngoài yếu tố yêu nước, đoàn kết và lòng quyết tâm quần chúng còn phải thức tỉnh và vượt qua thói quen sống dưới một xã hội quân chủ bị kềm kẹp bởi thế lực thực dân.

            Đó là những trăn trở của thanh niên Phan Châu Trinh, là những gánh nặng dằn vặt của ông ở tuổi bắt đầu biết suy tư. Từ đó, trong suốt hành trang đấu tranh và hành trình dân tộc, Phan Châu Trinh đã xây dựng một ước mơ, ước mơ ấy là dân tộc phải được duy tân. Duy tân là điểm khởi đầu, là chìa khóa cho mọi cuộc tranh đấu bất bạo động, là sinh khí và vũ khí tối cần để dân tộc chúng ta thoát ra cảnh bị nô lệ. Chính vì thế, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng ï đã khai phá ra con đường đi tới của dân tộc qua chủ thuyết “Duy Tân”. Để rồi từ phong trào Duy Tân khai sinh tại Quảng Nam sau đó đã nở rộ trên khắp nẻo đường đất nước. Phát sinh từ Duy Tân, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục cũng đã ra đời vào tháng 3 năm 1907 tại Hà Nội. Nhưng từ dấu ấn Duy Tân đến Đông Kinh Nghĩa Thục mặc dầu 2 danh xưng khác nhau nhưng ai ai cũng hiểu rằng Duy Tân là tiền thân của Đông Kinh Nghĩa Thục. Vẫn biết rằng sự hiện hữu của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ vỏn vẹn có 9 tháng (bị thực dân Pháp đóng cửa vào tháng 12). Tuy nhiên, xét về mặt tinh thần, người Pháp đã thất bại nặng nề. Cả 2 từ Duy Tân đến Đông Kinh Nghĩa Thục đã động viên được lòng yêu nước của mọi tầng lớp sĩ phu, nhất là nhân sĩ đất Quảng Nam đã kết hợp cùng với các sĩ phu Bắc Hà cũng như sĩ phu miền Nam vận động quần chúng đoàn kết để chống lại thực dân bằng hình thức bất bạo động.

            Như trên đã đề cập, sỡ dĩ phong trào Duy Tân được thành lập là do bởi tầm nhìn chiến lược của Phan Châu Trinh, khi ông nhận ra rằng Phong Trào Cần Vương tại Quảng Nam do chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu thất bại vì trình độ dân trí của ta hồi ấy hãy còn quá hạn hẹp, nhất là phương tiện vũ lực không thể khống chế lại được vũ khí và cách tổ chức của người Pháp. Chính vì thế, nên cụ Phan đã đưa ra chủ thuyết: Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh. Ngay từ thưở thiếu thời, cho đến những ngày bôn tẩu tại Pháp cụ Phan đã nhận ra một điều rằng, muốn đánh đuổi thực dân, trước tiên phải nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và cải thiện đời sống của người dân. Nhất là phải dành cho được cái quyền tối thượng bình đẳng của Thượng Đế bang cho mỗi con người và mỗi dân tộc.

            Đó là những khắc khỏi do lòng yêu nước nẩy sinh của người học trò đi chân đất xứ Quảng họ Phan, từng đi bộ hàng chục cây số đến trường mang theo từng con cá chuồn nướng cùng vắt cơm nguội bọc trong mo cau để trau dồi kinh sử. Nhưng đối với truyền thống người học trò đất Quảng Nam học không phải tham gia quan trường áo mũ vinh quy, mà cái học ấy nhằm mục đích trau dồi tri thức để giải thoát nô lệ đánh đuổi thực dân, giải thoát cái cũ thay vào cái mới. Cái mới ấy hợp với lòng người và thuận với lòng trời. Đó là lý do tại sao cụ Phan đã nghiên cứu các nguyên tắc dân quyền, phân quyền, độc lập, tự chủ, về một xã hội dân sự và quyền bỏ phiếu, quyền ứng cử cũng như tranh cử, cùng sự hình thành và cấu tạo các định chế xã hội, trong đó tư tưởng của Baron de Montesquieu là một trong những lý thuyết được cụ Phan chiêm nghiệm.

            Từ những tư tưởng tiến bộ hợp với bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, cụ Phan cùng các đồng chí Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng đã đưa phương án đấu tranh chống xâu cao thuế nặng của bọn thực dân, đòi hỏi thực dân phải đối xử với người bản xứ bình đẳng, phải mở trường học và mọi người được quyền cắp sách đến trường. Bên cạnh đó, cụ Phan còn kêu gọi mọi người hãy cắt tóc dài, bỏ tật nhuộm răng đen, ăn mặc gọn gàng theo kiểu Tây phương. Với chủ trương ôn hòa nhưng vô cùng quyết liêät, cụ Phan đã tổ chức nhiều cuộc diễn thuyết phát động quần chúng tham gia phong trào khai dân trí. Lời kêu gọi của Người đã được nhân dân cả nước từ Nam chí Bắc hưởng ứng.

            Hãy nhìn vào giai đoạn lịch sử lúc ấy, nhân dân Việt Nam ta chịu sự lăng nhục của một chế độ quân chủ nhà Nguyễn chỉ biết vâng mệnh phục tùng thực dân Pháp. Một chế độ Tây lai mà từ vua đến quan đều tham ô mê say tửu sắc, ngay cả việc dựng vợ gả chồng cho vua cũng do thực dân Pháp sắp đặt (vua Bảo Đại). Bên cạnh những xuẩn động của một chế độ phong kiến và chuyên chế dưới chế độ quân chủ nhà Nguyễn, người dân Việt Nam thời bấy giờ lại còn bị ảnh hưởng đậm sâu bởi một nền tư duy truyền thống do yếu tố Hán tộc gây nên. Do đó, muốn thay đổi tư duy con người đã gắn liền qua nhiều thế kỷ không phải là việc làm giản dị, một sớm một chiều mà người khởi xướng phải có thừa can đảm và khả năng thuyết phục, để vận động một cuộc duy tân toàn diện về cách suy tư cũng như hành động cụ thể như: cắt tóc, mặc quần áo theo kiểu Tây phương, chấm dứt tệ nạn mê tín dị đoan, thờ cúng bình vôi, ông táo hoặc tượng hình v.v.. Tất cả những đổi thay ấy, không ngoài mục đích hướng tới một giá trị mới mẻ hơn để thích ứng với một nền văn minh phương Tây, phù hợp với bước đi chung của các dân tộc trên thế giới.

            Chính những giá trị thời đại mà chí sĩ Phan Châu Trinh đã trãi nghiệm qua Phong Trào Cần Vương, và cũng chính vì quan niệm quân chủ độc tài nên thân phụ của ông đã chết oan dưới lưỡi kiếm Cần Vương. Đó là bi kịch của một xã hội theo thể chế quân vương và hài kịch của một định chế không có một nền móng dân chủ, tam quyền phân lập. Do đó, duy tân hóa tư duy của con người là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Cuộc cách mạng Duy Tân do chí sĩ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân, Nguyễn Đình Hiến và Phạm Liệu ở Quảng Nam khởi xướng được đánh giá ở tầm mức tiến bộ ngang hàng với cách mạng kỹ nghệ của Anh và Âu châu vào cuối thế kỷ XVIII, sau đó đến cuộc cách mạng thứ 2 tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ IXX (1820-1870). Cả 2 cuộc cách mạng Anh –Mỹ đã đưa đất nước họ tiến đến một nền văn minh kỹ nghệ tuyệt vời. Nhờ ở “kỹ nghệ hóa” đất nước nên Âu châu và Hoa Kỳ đã trở nên những quốc gia tiên tiến, hiện đại để đất nước họ có thể takeoff đưa đến nền kinh tế thị trường đa phương.

            Thế thì ở trong giai đoạn phôi thai của phong trào Duy Tân có người sẽ đặc câu hỏi giữa 2 cái định luận của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu khác nhau ở điểm nào? Thưa rằng: nhà cách mạng vĩ đại Phan Bội Châu muốn đuổi giặc Pháp thì chúng ta phải dùng bạo lực, và chỉ có sức mạnh bạo lực mới có thể đuổi được giặc thù. Song song với hành động bạo lực cụ Phan Bội Châu muốn tái tạo vai trò của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để để dựng lại lại vương triều nhà Nguyễn, nên cụ Phan cùng ông Mai Lão Bạn đã tìm cách đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để Đông du. Khác với Phan Bội Châu, chí sĩ Phan Châu Trinh lại quan niệm chế độ quân chủ cần phải đẩy lùi và tình trạng quan liêu cũng như giáo trình học vấn cần phải thay đổi, nhất là hệ thống thi cử phải cải tổ hoàn toàn, nhằm ngăn chận tệ trạng tham ô cửa quyền. Mặc dầu giữa hai 2 cụ Phan có sự tương phản trong chủ trương và đường lối cứu nước. Một bên là xử dụng bạo động, bên kia bất bạo động. Bạo động đồng nghĩa với lửa, bất bạo động đồng nghĩa với nước. Dù cho nước hay lửa mang hai thái cực, nhưng cả hai cùng chung một mẫu số nên không có sự chống chọi lẫn nhau. Ngược bằng 2 cụ lại hỗ trợ và tương ứng lẫn nhau, trong những lúc rảnh rỗi tại Đông Kinh hay Hồng Kông, 2 cụ đã rượu ẩm trà đàm. Vì thế tiên sinh Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng đã nhận định trong bài xã luận trên báo Tiếng Dân rằng hai cụ “tương phản nhi tương thành”.   

            Một điểm khác chúng ta cũng nên lưu ý rằng: Chí Sĩ Phan Châu Trinh đã dày công nghiên cứu tìm hiểu tại sao những cuộc khởi nghĩa từ Văn Thân đến Cần Vương đều thất bạiï. Nguyên nhân của sự thất bại ấy là từ đâu? Chúng ta mạnh ở chỗ nào và yếu chỗ nào? Nền văn hóa chúng ta đã bị chi phối như thế nào bởi tinh thần Nho Giáo. Trong một cuộc diễn thuyết tại Huế, ông đã công khai lên án vua tôi nhà Nguyễn là nô bộc thuộc địa, đồng thời ông cũng nhấn mạnh đến sự ràng buộc của văn hóa Việt Nam qua cửa ngõ Nho Giáo là một trong những nguyên nhân để dân tộc ta chưa được giải phóng.

            Điểm thứ hai, là một trí thức yêu nước luôn luôn đưa ra những đề nghị thực dụng (a practical proposal), ông nhận khuyết điểm của mình và ghi nhận ưu điểm của người khác. Ông lắng nghe, học hỏi và sửa sai. Chính vì thế ông nhận ra được khuyết điểm trong đường lối đấu tranh và sự thiếu sót của cơ cấu tổ chức, cũng như ông biết phân loại giai cấp nhưng không biệt giai cấp, ông phủi chân ngồi bệt dưới đất với mọi người khi cần đến và dũng cảm nói lên những cái cần thay đổi trong chính sách bảo hộ với Thực dân cho dù họ không hài lòng. Ông không dối mình cũng chẳng lừa dối đồng bào. Ông chiến đấu không cô đơn nhưng đôi khi lại vô cùng đơn độc, Ông là chiến sĩ biệt động, là nghĩa quân tiên phong rao giảng tin mừng về một cuộc cách mạng duy tân. Ông yêu nước nồng nàn, nhiệt tâm. Ông hy sinh quyền lợi cho chính mình để mưu cầu lợi ích quốc gia, và ông đã nói: ‘Tôi xin nói thực với các anh, tôi đã bỏ 2/3 đời tôi để tìm lấy thuốc mà chữa trị cho nước nhà. Thông minh tôi tuy kém, tài trí tôi tuy hèn, nhưng trong buổi giao thời, tôi có thể nói rằng:”cái trách nhiệm nòi giống của dân tộc Việt Nam, tôi không nhường cho ai cả”.  

            Hỡi Ôi! Hào khí của người Việt Nam. Hồn thiêng sông núi, cùng vùng đất địa linh nhân kiệt Quảng Nam đã sinh ra ông. Và chính Ông cùng Chí sĩ Trần Cao Vân và Huỳnh Thúc Kháng là tác giả của cuộc Tung Kỳ Dân Biến vào năm 1908. Để rồi cái giá phải trả cho cuộc cách mạng Dân Biến nầy là nhà cách mạng Trần Cao Vân bị chém yêu trảm vào ngày 17/4/1908 bên cầu Phước Thành bắc qua sông Con tại tỉnh Khánh Hòa (chém ngang lưng và chặt thành 3 khúc). Cụ Huỳnh Thúc Kháng và Phan Châu Trinh bị bắt và đày đi Côn Đảo với bản án chung thân khổ sai (Cụ Phan bị bắt tại Hà Nội vào ngày 31/3/1908 sau đó đưa về xử tại Huế vào ngày 10/4/1908 do Phủ Phụ Chính). Tại Huế trong ngày xử án chí sĩ Phan Châu Trinh đã khẳng khái nói lớn rằng: “Tôi bị tù nhưng không có tội, kẻ có tội chính là vua tôi nhà Nguyễn và thực dân Pháp đã áp chế dân tộc tôi ”.

 

            Sau những năm vào tù ra khám trong nước cũng như ở Pháp, sau nhiều năm bôn tẩu trên xứ người cụ vừa lao tâm lẫn lao lực cực nhọc. Đã thế các cuộc vận động cho dân quyền tại quê nhà hầu bế tắc, nhưng cụ vẫn không nản lòng, người đi khắp năm châu để vận động, mặc dầu bản chất thực dân thì ngàn đời chúng vẫn thực dân. Từ đây tinh thần cụ giảm sút, sức khỏe suy yếu rất nhiều. Hình như linh tính cho biết điềm dữ sắp đến nên cụ quyết định về nước. Ngày xuống thuyền về đến bến Chương Dương, cho dù bọn mật thám theo dõi ráo riết khắt khe, nhưng sĩ phu miền Nam và đồng bào Sài Gòn-Gia Định đã tề tựu đông đủ ước đoán cả vài ngàn người đón cụ. Trong diễn văn đầu tiên khi bước xuống tàu chí sĩ Phan Châu Trinh đã lên án thực dân và đả phá chế độ quân chủ đề cao dân quyền. Người gửi điện văn đến toàn quyền Alexandre Varenne yêu cầu trả tự do cho cụ Phan Bội Châu cũng như yêu cầu Khâm sứ Trung Kỳ Pierre Pasquyer đình chỉ lập tức việc cử người kế vị vua Khải Định. Liên tiếp trong 6 tháng kể từ ngày trở về, cho dù sức khỏe cụ càng ngày càng suy yếu nhưng không một giây phút nào cụ không nghĩ đến tiền đồ tổ quốc. Thế rồi vào một buổi chiều hoàng hôn ngày 24/3/1926 cụ đã trút hơi thở cuối cùng, trong niềm tiếc thương và đớn đau của đồng bào cả nước. Đám tang của cụ đã có hàng chục ngàn người đưa tiễn, tất cả các cửa hàng tại Sài Gòn đã đóng cửa để tangï, đồng bào cả nước từ Nam chí Bắc đã có những cuộc xuống đường đòi dân quyền. Cụ mất đi dân tộc chúng ta tiếc thương một nhà đại cách mạng dân tộc suốt đời tận tụy với nước non. Riêng đất Ngũ Phụng Tề Phi Quảng Nam mất đi một người con nghĩa tình nhân hậu, và thế hệ chúng ta mất đi một nhà ái quốc, một tấm gương ngàn đời vẫn còn soi sáng..

            Ngày nay những nhà yêu nước khởi xướng phong trào Duy Tân đã không còn nữa, nhưng ngọn đuốc Duy Tân vẫn còn sáng mãi trong mỗi trái tim Việt Nam.  Và rằng cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đã ra đi về miền viên miễn, nhưng tinh thần và khí tiết của các cụ mãi mãi là ngọn hải đăng sáng ngời trong từng thế hệ Việt Nam.

 

 

 

________________________________________________________________________

Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ: 2800 N. Classen BLVD Suite 102 Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558