| |
Tiến sĩ, Chủ bút báo Dân Quyền Nguyễn Hữu Hoạt (NHH): Thưa
ông Nguyễn Thế Doanh, ông đánh giá thế nào về tình hình tôn
giáo Việt Nam hiện nay?
Ông Nguyễn Thế Doanh (NTD): Cảm ơn Tiến sĩ. Tôi thực sự cảm
kích trước tấm lòng hướng về quê hương đất nước của mọi
người và mong muốn mang tiếng nói chân thực từ trong nước
tới đông đảo bà con hải ngoại. Tôi đã nghỉ hưu từ tháng
09/2009, nhưng với hơn 30 năm làm công tác tôn giáo, tôi có
thể nói rằng chưa bao giờ tôn giáo ở Việt Nam có điều kiện
phát triển và có điều kiện để tham gia vào quá trình xây
dựng đất nước như hiện nay, thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, mảnh đất Việt Nam là mảnh đất khoan dung, nên nhiều
tôn giáo đến Việt Nam và phát triển. Mặt khác, do những điều
kiện xã hội, cộng đồng, và muốn tôn vinh những giá trị đạo
đức tôn giáo, bà con trong nước đã sáng lập ra nhiều tôn
giáo khác nhau như đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, Tịnh độ
cư sỹ phật hội, Tứ ân hữu nghĩa… Về cơ bản, các tôn giáo ở
Việt Nam kể từ ngày sinh ra sống với nhau hoà thuận, chưa hề
có xung đột tôn giáo khốc liệt xảy ra như ở một số nước nên
bà con vừa yên tâm sinh hoạt tôn giáo, vừa có điều kiện
giành tâm sức, công sức cho sự nghiệp xây dựng và phát triển
kinh tế.
Thứ hai, chính sách tôn giáo của Việt Nam ngày càng đổi mới,
cởi mở nên đời sống tôn giáo ngày càng được tạo điều kiện
thuận lợi để phát triển, các tôn giáo chân chính đang góp
phần tô điểm và làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của Việt
Nam. Mấy chục năm làm công tác tôn giáo, chưa bao giờ tôi
thấy tôn giáo ở Việt Nam được nhà nước quan tâm và chăm lo
như hiện nay. Chùa chiền, nhà thờ, thánh đường khang trang
mọc lên mọi nơi, sinh hoạt tôn giáo chỗ nào cũng thấy đông
vui. Đôi khi nơi này nơi kia, bà con theo đạo còn thể hiện
tín ngưỡng hơi quá nhưng nhà nước cũng chưa ngăn cấm, cản
trở.
Thứ ba, từ ngày đất nước thống nhất, trong một chừng mực nhất
định, các tôn giáo Việt Nam đã có sự giao lưu với bà con ở
xa quê, có tác dụng tốt, làm gắn bó thêm tình đoàn kết giữa
bà con trong và ngoài nước. Kiều bào ta ở nước ngoài cũng đã
có nhiều đóng góp để xây dựng nhiều cơ sở thờ tự cũng như
kinh phí cho các cơ sở đào tạo về tôn giáo ở trong nước. Mặt
khác, bà con trong nước giúp đỡ đồng bào xa quê hương về
phương diện tình cảm thông qua các chuyến đi hoằng pháp của
giáo sĩ các tôn giáo từ trong nước ra nước ngoài thực hiện.
NHH: Xin ông cho biết chủ trương của Chính phủ Việt Nam và
Ban Tôn giáo đối với việc những người theo đạo Tin lành tổ
chức kỷ niệm 100 năm đến Việt Nam?
NTD: Năm 1911, những người theo hệ phái CMA (Christian
Missonery Allience) bắt đầu truyền bá đạo Tin lành vào Việt
Nam. Năm 2011, Tổng hội Tin lành Việt Nam có kế hoạch kỷ
niệm 100 năm ngày Tin lành đến Việt Nam. Chính sách của nhà
nước Việt Nam đối với vấn đề tôn giáo là tạo mọi điều kiện
để bà con sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh bình thường chẳng
hạn, chúng tôi đã giúp đỡ và hướng dẫn giáo hội Công giáo tổ
chức khai mạc Năm Thánh trang nghiêm, trọng thể nhân kỷ niệm
50 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, kỷ niệm 80 năm
dòng Phao-lô đến Việt Nam, 350 năm giáo phận đàng ngoài,
giúp Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo kỷ niệm 70 năm ngày khai đạo
của Phật giáo Hoà hảo… Tôi nghĩ rằng, nếu quý vị Tin lành
Việt Nam đề nghị, Nhà nước cũng sẽ giúp đỡ, tạo điều kiện để
giáo hội Tin lành kỷ niệm 100 năm Tin lành có mặt ở Việt Nam
trọng thể trong khuôn khổ pháp luật, theo đó, thì việc kỷ
niệm 100 năm ấy của Giáo hội Tin lành sẽ thuận lợi.
Đạo Tin lành ở Việt Nam do hệ phái CMA truyền vào. Khi đất
nước bị chia cắt thì hình thành 2 hội thánh Tin lành cùng
gốc CMA là Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam miền Bắc và
Tổng liên hội hội thánh Tin lành Việt Nam miền Nam. Sau đó
một loạt các hệ phái Tin lành khác đến Việt Nam hình thành
và phát triển. Đến giờ, chúng tôi đã cấp đăng ký và công
nhận khoảng 10 tổ chức hệ phái Tin lành. Ngoài 2 tổ chức ở
miền Bắc và miền Nam, còn các hệ phái khác không liên quan
gì đến sự kiện 1911 vì họ đến sau như baptist, phúc âm ngũ
tuần… Tuy nhiên, số lượng tín đồ của hai hội thánh gốc CMA
chiếm số lượng lớn nhất: Miền Nam khoảng 500-600 nghìn,
ngoài Bắc ít hơn. Với tư cách người làm tôn giáo, tôi cho
rằng đây là một dấu mốc lịch sử của những người theo đạo Tin
lành Việt Nam vì có 100 năm tồn tại đồng hành cùng các tôn
giáo khác, cùng đóng góp xây dựng đất nước Việt Nam.
NHH: Tôi cho rằng bà con theo đạo Tin lành sẽ rất vui mừng
trước sự ghi nhận của nhà nước Việt Nam. Tôi xin chuyển qua
một vấn đề khác. Xin ông cho biết nguyên nhân nảy sinh các
vụ tranh chấp đất đai có liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam
thời gian qua?
NTD: Cốt lõi các vụ phức tạp như Đồng Chiêm, Tam Tòa… không
phải ở một vấn đề cụ thể nào mà vấn đề đất đai nói chung và
trong đó đất đai tôn giáo nói riêng. Mỗi nước có luật riêng,
luật Việt Nam có những điều khác các nước khác. Xuyên suốt
Luật Đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân về đất đai, nhà
nước đại diện cho toàn dân để làm chủ sở hữu đất đai đó. Ở
một số nước khác, có hình thức sở hữu tư nhân về đất đai.
Còn ở Việt Nam thì không. Luật Đất đai 1983 quy định đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, không có sở hữu tư nhân về đất đai.
Nhà nước chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không
cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất. Trong giao dịch, người
ta hay nói tắt làm cho khái niệm sở hữu và sử dụng đất bị
lẫn lộn. Ví dụ, chúng ta thấy báo chí đôi khi nói giá đất Hà
Nội tăng lên 40 triệu/m2, nhưng nói đúng phải là giá quyền
sử dụng đã tăng lên 40 triệu/m2. Bán đất đúng nghĩa là
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chứ không có chuyện bán đất.
Căn cứ vào nhu cầu thực tế, quy hoạch và quỹ đất thì người
dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho
mục đích của mình.
Như vậy, về phương diện pháp luật thì không có sở hữu tư nhân
về đất đai, theo đó các tôn giáo cũng không có sở hữu tư
nhân, của anh hay của tôi về đất đai, không có đất của công
giáo hay phật giáo, chỉ có nhà nước căn cứ vào quỹ đất, vào
chính sách tôn giáo, nhu cầu chính đáng về việc sử dụng đất
cho mục đích tôn giáo giao cho tôn giáo quyền sử dụng đất và
được pháp luật bảo hộ, thậm chí nhà nước không đánh thuế
quyền sử dụng đất, tức là đất tôn giáo ở Việt Nam không bị
đánh thuế và thực tế là cho đến nay, nhà nước đã cấp quyền
sử dụng nhiều chục héc-ta đất cho tôn giáo để phục vụ mục
đích tôn giáo. Do nhận thức không hết về luật đất đai nên
thời gian qua mới có các vụ việc phát sinh liên quan đến vấn
đề đất đai.
Về phương diện xã hội, diện tích đất của Việt Nam suy cho
cùng chỉ có khoảng 330.000 km2, hàng năm lấn ra biển không
đáng kể. Năm 1945, người công giáo chưa đến 2 triệu người,
bây giờ người công giáo chừng 6 triệu người. Năm 1945, dân
số Việt Nam chừng 20 triệu người, nay đã gần 90 triệu người.
Dân số tăng 4 lần, người công giáo tăng hơn 3 lần trong khi
đất đai không sinh ra do đó nhu cầu sử dụng đất ngày càng
gay gắt. Nhà nước ưu ái, tạo điều kiện cho tôn giáo phát
triển, nhưng tôn giáo cũng cần chia sẻ với khó khăn chung
của đất nước. Xét một cách tổng thể, trong khi đất sử dụng
cho các mục đích khác được thu hồi để phục vụ phát triển
kinh tế thì đất phục vụ cho hoạt động tôn giáo đều được cân
nhắc một cách rất thận trọng, kỹ lưỡng và xử lý theo hướng
bảo toàn là chính. Nếu xét về mặt xã hội, cơ sở hạ tầng của
công giáo may mắn hơn các tôn giáo khác. Có giai đoạn, ở
Việt Nam do ảnh hưởng cách mạng văn hoá, nhiều chùa chiền bị
dỡ bỏ, nhưng không có nhà thờ nào bị phá. Năm 1954, người
công giáo phía Bắc hầu như di cư vào Nam, nhà thờ bị bỏ
hoang, chính quyền nhân dân tại các địa phương trong những
cố gắng nhất định cũng đứng ra để bảo vệ và giữ gìn nhà thờ
cho tôn giáo.
Trong chừng mực nào đó, cả tôn giáo và cả một bộ phận cán bộ,
nhân dân ở cơ sở chưa hiểu hết tinh thần ấy, nhất là một bộ
phận còn cố chấp trong tôn giáo thì tranh chấp đất đai chưa
giải quyết một cách dứt điểm được.
NHH: Như vậy, vụ việc ở Đồng Chiêm cũng nằm trong nạn trạng
chung, tức là do bà con chưa nắm được luật pháp về đất đai
phải không, thưa ông? Tại sao chính quyền không giải thích
tường tận vấn đề nầy?
NTD: Đồng Chiêm là một khu vực đồng chiêm trũng, hàng năm
ngập lớn. Trong vùng có một ngọn núi đất cao chừng 70m, dưới
chân núi có nghĩa địa của người công giáo. Theo phong tục
của người Á Đông, nơi nào chôn người chết là nơi linh thiêng
nên từ bao đời người trong vùng gọi đây là núi thiêng, núi
thờ. Năm 2009, bà con cho dựng trên đỉnh núi cây thánh giá
bằng bê tông, cao chừng 5,4m, sải cánh rộng 2,8m, bệ cao
1,2m mà chưa báo cáo, xin phép chính quyền địa phương.
Theo tôi được hiểu, lãnh đạo địa phương đã mời linh mục và bà
con đến giải thích rõ ràng và đề nghị tháo dỡ. Theo Luật Đất
đai thì núi này cũng thuộc sở hữu toàn dân, không của riêng
người công giáo, nhà nước tôn trọng việc bà con mai táng
người đã mất ở núi, nhưng chính quyền địa phương không đồng
ý với việc bà con không xin phép, tự động trồng cây thánh
giá trên đỉnh núi làm người ta có thể hiểu đây là một việc
làm nhằm xác lập quyền sở hữu của giáo hội đối với quả núi
này. Như vậy là trái với Luật Đất đai, do đó cần phải tháo
dỡ. Sự việc kéo dài đến cuối năm thì chính quyền địa phương
tổ chức cưỡng chế, dỡ bỏ cây thánh giá, dẫn đến tình trạng
một bộ phận người dân có những hành động quá khích kích động,
lôi kéo bà con. Chính quyền địa phương vẫn đang kiên trì
tuyên truyền, giải thích để bà con hiểu đúng chính sách tôn
giáo và chính sách đất đai của nhà nước, vừa yên tâm sống
đạo, giữ đạo hài hòa trong lòng dân tộc, vừa tích cực tham
gia xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội cho mình và cho
đất nước. Như vậy, vấn đề chỉ ở chỗ một số bà con giáo dân
chưa hiểu rõ luật pháp, cho rằng đất đai là của mình nên có
quyền cắm thánh giá trên đỉnh núi.

NHH: Ông suy nghĩ thế nào về Giáo hội Phật giáo Việt Nam
thống nhất?
NTD: Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (GHPGVNTN) lâu
nay là vấn đề tranh luận rất nhiều bởi người ta đã gán cho
nó những nội dung chính trị chứ thực ra, GHPGVNTN là 01
trong 09 tổ chức tham gia sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt
Nam hiện nay. Các vị bậc trưởng thượng của GHPGVNTN ngày ấy
cũng đã là những người đóng vai trò chủ chốt của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam. Ví dụ, năm 1981, tại Đại hội đại biểu
thống nhất Phật giáo toàn quốc, Hoà thượng Thích Trí Thủ,
nguyên Viện trưởng Viện hoá đạo của GHPGVNTN, đã trở thành
Chủ tịch Hội đồng Trị sự của Trung ương Giáo hội Phật giáo
Việt Nam, tức là người đứng đầu của cơ quan điều hành của
Giáo hội. Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Tổng vụ trưởng Tăng sự
GHPGVNTN đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam (hiện nay Hoà thượng là Chủ tịch Hội đồng Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam). Hòa thượng Minh Châu nguyên là Tổng hội trưởng
Tổng hội Thanh niên của GHPGVNTN cũng trở thành Phó Chủ tịch.
Điều đó có nghĩa là GHPGVNTN không mất đi mà hoà vào trong
Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. Đại bộ phận quý lãnh
đạo cao của Hội đồng Trị sự GHPGVNTN đều đảm nhận nhiều
cương vị trọng trách trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện
nay.
Lâu nay người ta tuyên truyền thế này thế kia nên đôi khi
chúng ta có nhận xét thiên kiến về GHPGVNTN nhưng theo ý
kiến tôi, GHPGVNTN là một giáo hội được hình thành trên cơ
sở sự thống nhất của nhiều hệ phái tổ chức Phật giáo Việt
Nam ở miền Nam Việt Nam vào những năm 60 của thế kỷ XX, thể
hiện tinh thần đoàn kết của các phật tử Việt Nam lúc bấy giờ
để xây dựng giáo hội có tinh thần dân tộc chống lại sự xâm
lược của các thế lực ngoại bang. GHPGVNTN đã đoàn kết đông
đảo phật tử ở miền Nam lúc bấy giờ để chống lại chế độ độc
tài của Tổng thống Ngô Đình Diệm và sự can thiệp của quân
đội Mỹ ở Việt Nam. Bây giờ, một số cá nhân chẳng qua muốn
khoác lên mình nó cái nội dung chính trị mà thôi, chứ gần 30
năm nay, GHPGVNTN đã là thành viên tích cực cùng với các
thành viên khác tạo nên hình hài mạnh khỏe và ngày một
trưởng thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay.
NHH: Xin hỏi ông câu hỏi cuối cùng: Ông có thông điệp gì với
bà con hải ngoại liên quan đến vấn đề tôn giáo?
NTD: Trải qua mấy chục năm chiến tranh, Việt Nam chịu nhiều
thiệt thòi so với các quốc gia khác trong khu vực. Đó là sự
ly tán và không hiểu nhau. Một bộ phận máu đỏ da vàng không
hiểu nhau, vô tình hay hữu ý tiếp sức thêm cho các thế lực
không có thiện chí với Việt Nam ở bên ngoài gây cản trở cho
quá trình hòa hợp dân tộc cũng như quá trình hội nhập quốc
tế của đất nước ta, làm cho đất nước mình yếu đi. Chúng ta
tự hào rằng, người Việt ta dù ở chân trời góc bể nào cũng
thể hiện là dân tộc thông minh, hiếu học, và giàu lòng tự
trọng. Dù đứng về phía nào thì trí tuệ và tri thức của dân
tộc Việt cũng là tài sản chung của nhân loại. Các cụ ngày
xưa nói “nghèo thì hèn”, vì vậy muốn giàu có thì chúng ta
phải đoàn kết. Hiện gần 90 triệu dân trong nước đã đoàn kết
rồi, tuyệt đại bộ phận bà con ở nước ngoài đã đoàn kết rồi,
chỉ còn một bộ phận nhỏ không hiểu hoặc chưa hiểu hoặc vẫn
còn cố chấp nên có những hành động trái với mong muốn đại
đoàn kết dân tộc của lãnh đạo và nhà nước Việt Nam. Là người
Việt Nam thì không có lý do gì chúng ta lại nói xấu, kích
động chia rẽ dân tộc bởi suy cho cùng việc đó không mang lại
lợi ích gì cho đất nước.
Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đầy đủ đến đời sống tín
ngưỡng tôn giáo của đồng bào các tôn giáo ở việt Nam và có
chính sách tôn giáo phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi để bà
con được sinh hoạt tôn giáo bình thường trong khuôn khổ pháp
luật. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu rằng cần phải tiếp tục
điều chỉnh, bổ sung chính sách tôn giáo cho tương thích hơn
với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước cũng như phải tăng
cường hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách tôn giáo
của nhà nước ở các cấp, các ngành, các địa phương, khắc phục
những thiếu sót, khuyết điểm để việc thực hiện chính sách ấy
ngày một tốt hơn.
Chính phủ Việt Nam cũng tạo mọi điều kiện để bà con trở về
xây dựng quê hương, đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh.
Tôi lấy một ví dụ để ông Chủ bút nắm vững. Năm 2008, Việt
Nam đã cho tu sửa nghĩa trang Bình Dương (Biên Hòa), nơi
chôn cất binh sỹ quân đội chế độ cũ trước đây, để những ai
quan tâm, có nhu cầu thăm viếng tới thắp hương, dù những
người nằm đó trong chiến tranh đã ở bên kia chiến tuyến.
Điều này thể hiện tinh thần nhân đạo, gác lại quá khứ, cùng
nhau xây dựng tương lai của dân tộc Việt Nam.
Tôi mong muốn bà con trong ngoài sẽ đoàn kết hơn nữa, hiểu
nhau hơn nữa để làm cho các tôn giáo Việt Nam thực sự lành
mạnh và đóng góp vào sự phát triển đất nước.
NHH: Xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện này! Và cũng trong một
chừng mực nào đó tôi đã hiểu thêm một số vấn đề mà trong quá
khứ tôi hằng quan tâm. Là người Việt Nam cho dù tôi sống Mỹ
35 năm, nói tiếng Anh, ăn đồ Mỹ, hòa nhập vào dòng chính trị
và văn hóa của nước Mỹ. Nhưng đối với tôi, tổ quốc bắt đầu
vẫn là Việt Nam. Tôi yêu mến nước Mỹ bằng tấm lòng và lý trí,
tôi phục vụ và bảo vệ nước Mỹ bằng trí tuệ sáng suốt mà Chúa
đã cho tôi. Nhưng tôi cũng trân trọng yêu mến đất nước Việt
Nam bằng trái tim, trái tim ấy vô cùng và rất Việt Nam. Và,
Việt Nam muôn năm….. ám ơn ông Doanh đã dành cho tôi cuộc
phỏng vấn hôm nay, và kính chúc Ông cùng gia quyến sức khoẻ,
vạn sự cát tường.
NTD: Cảm
ơn Tiến sĩ Chủ Nhiệm. Tôi cầu chúc Tiến sĩ cùng gia đình sức
khỏe và thành đạt trong năm mới.
________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|