Cuộc chạy đua võ trang giữa Trung Quốc-Ấn Độ-Pakistan

      

Dân Quyền Online

 

 

 

Tiến sĩ Nguyễn hữu Hoạt    

Sự bành trướng hải quân Trung quốc và các nỗ lực nguyên tử của Pakistan là nguyên nhân sâu xa để Ấn độ duyệt xét lại kế hoạch phòng thủ. Chính vì sức mạnh vũ trang của hai quốc gia láng giềng nầy nên hành pháp Ấn có lý do để yêu cầu lập pháp chấp thuận một ngân sách tăng thêm 175 tỷ Mỹ kim cho Bộ quốc phòng và 76 tỷ Mỹ kim riêng cho các chương trình nghiên cứu nguyên tử năng và tiềm thủy đỉnh. Ngoài ra, nhằm mục đích chống lại cuộc chiến khủng bố có sự hỗ trợ từ bên ngoài, Tân Đề Ly đã triển khai một chiến lược toàn cầu, trong đó vấn đề phòng thủ biên giới cũng như kế hoạch bảo vệ vùng trời và vùng biển được hiện đại hóa bằng những tiềm thủy đỉnh tầm cỡ và các trạm không gian tinh khôn.

Tên lửa Prithvi của Ấn Độ

Về bộ binh cơ giới, Ấn độ sẽ thành lập thêm 8 sư đoàn bộ binh, 12 chiến đoàn thiết giáp, 32 tiểu đoàn pháo binh cơ động có gắn các đầu đạn hỏa tiễn tầm trung, được điều khiển bởi một hệ thống điện tử cực kỳ chính xác. Riêng về chiến đấu cơ, Ấn độ đã phối hợp cùng với Nga sô tân trang cũng như sản xuất loại chiến đấu cơ Sukhoi Su-30. Riêng các tiềm thủy đỉnh cũng như chiến hạm, Ấn đã hợp đồng cùng Nga sô cải tiến và trang bị lại các đầu đạn nguyên tử. Chương trình nầy được thực hiện trong vòng 15 năm hoặc nhiều hơn nữa tùy theo tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia cho phép. Tuy nhiên, về phương diện tu bổ hoặc khả năng cung cấp phụ tùng sửa chữa các tiềm thủy đỉnh và chiến hạm, Ấn độ chưa có đủ phương tiện để đáp ứng cho nhu cầu nầy nên họ lệ thuộc vào sự giúp đỡ của Nga.

Vào tháng 6 năm 2001, hai chính phủ Nga sô- Ấn độ đã ký kết một hợp đồng trị giá 10 tỷ Mỹ kim dùng để Nga sô cung cấp cho Ấn độ trong một thập niên về vũ khí và quân dụng. Riêng trong tháng 4/2009 Ấn độ đã đồng ý thuê lại của Nga sô 4 dàn phóng nguyên tử Tupoley Tu-22 long-range cùng với 2 tiềm thủy đỉnh nguyên tử. Riêng về kỹ thuật, Ấn độ đã phối hợp cùng Do thái nghiên cứu và chế tạo các loại vũ khí hiện đại.

Đối với Không quân, Ấn độ đã chi dùng một số tiền khổng lồ lên đến gần 39 tỷ Mỹ kim trong các chương trình hỏa tiễn, máy bay dùng để chuyển vận hành quân (combat aircraft), trực thăng có gắn missiles, airbone warning system và control systems. Riêng bộ binh thì chiến xa mới có gắn missiles và các loại trọng pháo nòng dài.

Về tiếp liệu, Nga sô đã đóng vai trò chính trong việc cung cấp các thiết bị cho Ấn độ. Từ tàu chiến, tiềm thủy đỉnh, vũ khí, quân trang quân dụng, trọng pháo, phản lực cơ chiến đấu, trực thăng và các hệ thống phòng thủ. Hỏa tiễn bắn xuyên lục địa S-300VM đều được Nga sô phối hợp cùng Ấn độ để chế tạo.

Với những nỗ lực bành trướng khả năng quân sự và vũ khí của Ấn, được các nhà quân sự Tân Đề Ly cho rằng yếu tố Trung quốc và Pakistan là động lực để họ phòng vệ. Ngược lại, đối với Pakistan sự bành trướng vũ khí của Ấn là áp lực năng nề để Pakistan phải tiếp tục theo đuổi các chương trình hạch nhân trong mục đích phòng thủ. Và Trung quốc, cho rằng Ấn độ đang theo đuổi chính sách “cuồng vọng không tưởng”. Cuồng vọng nầy có thể đưa đến sự tái trùng hợp lịch sử như ngày 20 tháng 10 năm 1962 (Ngày 20/10/1962 Trung quốc đã đem chiến xa, đại pháo và bộ binh tấn công Ấn độ khi thỏa hợp về chiều dài 3,225 kilômét biên giới Himalayan không đoạt được thỏa thuận. Nguyên nhân của tranh chấp nầy, trước đây người Anh đã chiếm cứ lãnh thổ của Trung quốc về hướng Tây của Aksai Chin và Đông Nam quận hạt Ladakh trong khu vực Jammu và Kashmir. Sau khi người Anh trao trả độc lập lại cho Ấn độ vào năm 1947, Anh quốc đã thừa kế (inherited) cho Ấn di sản trên. Mãi cho đến tháng 4 năm 1960 Thủ tướng Chu Ân Lai đã đến New Delhi gặp gỡ Thủ tướng Nehru đặt vấn đề lấy lại phần lãnh thổ đã bị mất về tay Anh quốc, nay chuyển lại cho Ấn độ. Tuy nhiên, cuộc thương thuyết trên đã bất thành do bởi sự ủng hộ của Nga đối với Ấn độ).

Tàu ngầm Trung Quốc kiểu 039 lớp Song

Đáp lại sự lớn mạnh của Ấn độ được sự hỗ trợ của Nga sô, Trung quốc trong tiến trình muốn làm chủ Đông Nam Á và khuynh loát thế giới bằng sức mạnh quân sự, họ đã viện trợ và phối hợp cùng Pakistan trong các chương trình tân trang vũ khí trao đổi năng lượng. Xét trên bình diện chiến thuật, Pakistan và Trung quốc có cùng chung một mẫu số, mẫu số ấy là nuôi dưỡng tinh thần bài Ấn qua các giai thoại lịch sử về biên giới. Trong quá khứ Hoa kỳ đã bán vũ khí cho cả Ấn độ lẫn Pakistan. Tuy nhiên kể từ năm 1965 khi Ấn Độ và Pakistan tranh chấp lãnh thổ thì Hoa kỳ đã ngưng các chương trình bán vũ khí cho cả 2 quốc gia. Bắt đầu từ đó, Trung quốc trở thành đồng minh số 1 của Pakistan. Cho đến 1974 khi Ấn độ thử nuclear lần đầu tiên, Bắc kinh đã cực lực lên tiếng phản đối và từ đó họ đã bắt đầu viện trợ cũng như đưa kỹ sư và khoa học gia sang tận Pakistan để giúp hoàn tất chương trình nuclear càng sớm càng tốt.

Điều khôi hài nhất là trong khoản thời gian 1992, Trung quốc đã gia nhập và ký vào thỏa ước International Atomic Energy Authority và Comprehensive Test Ban Treaty năm 1995. Hơn thế nữa Trung quốc đã liên hệ chặt chẽ với Hoa kỳ để áp lực Bắc hàn ngưng hoạt động các chương trình nguyên tử, trong khi đó họ đã bí mật bán ra chất uranium cũng trong năm 1995 cho Pakistan. Hiện nay hải quân Trung quốc đang có mặt tại hải cảng Bangladesh’s Chittagong và căn cứ quân sự trên đảo Coco thuê lại của Myanmar, dùng để nghe lén mọi hoạt động của Ấn độ ở phía đông, đồng thời theo dõi các hoạt động của trung tâm nguyên tử tại Orissa. Trường hợp nầy cũng giống Trung quốc chiếm Hoàng Sa và Trường sa của Việt Nam để nghe lén các hoạt động của ta, đồng thời xử dụng vị thế chiến lược cùng lực lượng Hải quân để uy hiếp Việt Nam sau nầy.

Bên cạnh các chương trình bán lại vũ khí đạn dược, tàu chiến, pháo binh và quân trang quân dụng cho Pakistan, Trung quốc còn viện trợ chuyên viên để thành lập hải cảng nước sâu tại Gwadar. Tất cả các dự án quốc phòng nầy không ngoài mục đích xử dụng Pakistan để chống lại Ấn độ.

Tóm lại cuộc chạy đua vũ trang giữa Trung quốc, Ấn độ và Pakistan rồi sau cùng sẽ đi về vô cực thôi! Sức mạnh quân sự chỉ có thể chiến thắng trong giai đoạn đoản kỳ, nhưng chưa hẳn là chiến thắng tuyệt đối và sau cùng. Ấy là nguyên nhân đưa đến tiến trình đàm phán của SALT II (Strategic Arms Limitation Talks Agreement) từ năm 1972-1979 khi Tổng thống Jimmy Carter ký kết cùng Tổng bí thư Leonid Brezhnev.

 

________________________________________________________________________

Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ: 2800 N. Classen BLVD Suite 102 Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558