|
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt
Kể
từ Đại Hội đảng lần thứ I từ
ngày 27- 31 tháng 3 năm 1935 tại
Ma Cao, đến Đại hội lần thứ X
diễn ra tại Hà Nội đã được 71
năm. Khởi đầu, Đại Hội lần thứ I
có 13 đại biểu của đảng bộ quốc
nội và hải ngọai. Đến nay khi
Đại Hội khóa X lên đến 160 ủy
viên chính thức và 21 dự khuyết
được bầu vào BCH Trung ương.
Đại hội đảng lần thứ nhất, đảng
cộng sản đã đưa ra 4 mục tiêu
chính:
-
Đòi các quyền tự do tổ chức,
xuất bản, ngôn luận, hội họp đi
lại.
-
Bỏ những luật hình đặc biệt đối
với người bản xứ, trả tự do cho
tù chính trị, bỏ ngay chính sách
đàn áp, giải tán hội đồng đề
hình.
-
Bỏ thuế thân và các thứ thuế
khác.
-
Bỏ độc quyền về muối, rượu,
thuốc phiện.
Ngoài 4 mục tiêu trên, Đại hội I
còn thông qua nghị quyết chuyển
sang giai đọan tổng tấn công
chiến lược, gấp rút xây dựng
quân đội, kiện toàn tổ chức để
phát huy nội lực. Cho đến Đại
hội VI khẩu hiệu “Nhìn Thẳng Vào
Sự Thật” để mở đầu công cuộc đổi
mới đã được thực thi trong vòng
20 năm qua.
Đại Hội lần thứ VI từ ngày 15-18
tháng 12 năm 1986 tại Hà Nội.
Gồm có 1129 đại biểu. Đại hội đã
đưa ra những điểm sau đây:
-
Thể chế hóa đường lối, chủ
trương của Đảng thành pháp luật,
chính sách cụ thể.
-
Xây dựng chiến lược kinh tế, xã
hội và cụ thể hóa chiến lược
thành phát triển kinh tế.
-
Quản lý hành chánh-xã hội và
kinh tế, điều hành các hoạt động
kinh tế, giữ vững pháp luật, kỷ
cương nhà nước và trật tự xã hội.
-
Xây dựng nhà máy gọn nhẹ, chất
lượng cao, với đội ngũ cán bộ
phẩm chất chính trị, có năng
lượng quản lý nhà nước, quản lý
kinh tế và quản lý xã hội.
Đi
từ Đại hội I đến Đại Hội VI và
đến nay Đại Hội X, chúng ta thấy
có nhiều điểm khác biệt bởi yếu
tố thời gian và nhu cầu mới. Đại
Hội X đã đưa ra khẩu hiệu:” Trí
tuệ, Đổi mới, Đoàn kết và Phát
Triển Bền Vững”. Song song với
khẩu hiệu trên Đại hội thứ X
cũng đã đặt vấn đề tham nhũng
lên hàng đầu.
Đây chính là mấu chót giai đọan
tiếp nối của Đại Hội VI và còn
mở đầu cho công cuộc đổi mới để
Việt Nam có thể gia nhập vào
WTO. Tuy nhiên, hội nhập vào nền
kinh tế toàn cầu không thể hiệu
quả khi giặc tham nhũng vẫn còn
nằm kín và bủa vây trong hệ
thống chính quyền. Vì thế, đòi
hỏi ở người lãnh đạo sau đại hội
X phải hy sinh lẫn dũng cảm
“nhìn thẳng vào sự thật”. Sự
thật nghĩa là muốn cải cách hành
chánh trước hết phải cải cách hệ
thống chính quyền và phải cách
mạng hóa bản thân của những
người điều hành cơ quan công
quyền. Cải cách hành chánh hiệu
quả sẽ có một xã hội ổn định. Do
đó, không thể phủ nhận được rằng
giặc tham nhũng là một thách
thức vô cùng quan trọng đối với
quốc gia. Giặc tham nhũng là
nguyên nhân đưa đến một xã hội
chỉ có 2 tầng lớp: Giàu và
Nghèo.
Trở về với những tư tưởng căn
bản trong quá trình cứu nước và
dựng nước, chúng ta thấy rằng
Tuyên Ngôn Độc Lập 1945 xây dựng
từ tư tưởng Dân Quyền và đã lấy
dân quyền làm khuôn mẫu chứ
không phải tư tưởng của Mác- Lê.
Chúng ta có thể nói rằng Tuyên
Ngôn Độc Lập 1945 chịu ảnh hưởng
sâu đậm tư tưởng Dân Quyền của
chí sĩ Phan Châu Trinh và Tuyên
Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Tư
tưởng dân quyền của Tuyên Ngôn
Độc Lập được nối tiếp bởi hiến
pháp 1946 để thể hiện ước mơ dân
quyền trên đời sống chính trị
của nhân dân. Do đó, Hiếp Pháp
1946 đã khẳng định được quyền
làm chủ của người dân và lịch sử
không thể chối bỏ những tương
quan cũng như vai trò của hiến
pháp 46 và sự khai sinh của nó.
Đi
từ ý niệm ấy, không ai phủ nhận
vai trò của Đảng lãnh đạo nếu
Đảng có thể thành lập một cơ chế
quân bình quyền lực (Check &
Balance), và tinh thần của Đai
Hội I phải được tiếp tục làm nền
tảng dựng nước. Nó (Đại Hội I)
phải là ngọn hải đăng cho tất cả
những Đại Hội kế tiếp sau này.
Cũng theo tinh thần của Đại Hội
I, nhân dân là người có quyền
tuyệt đối để kiểm soát Đảng, chứ
Đảng không thể kiểm soát nhân
dân. Đây là nền tảng lõi cốt của
tư tưởng Dân Quyền. Cho nên, vì
nhân dân làm chủ nên nhân dân có
quyền đòi hỏi những người thuộc
tầng lớp đại diện nhân dân phải
làm sáng tỏ những kẻ lợi dụng
chức quyền để làm giàu trên
xương máu của nhân dân.
“Bờ Mu 18” (PMU18) là một thí dụ
điển hình, chẳng những nó làm
ung thối chế độ, mất niềm tin
quần chúng đối chính quyền, mà
Bờ Mu 18 còn là nỗi nhục chung
của cả nước. Chính vì thế, vai
trò lãnh đạo mới của những người
lãnh đạo phải tạo lại niềm tin
của nhân dân cũng như sự tin cậy
ở những quốc gia sẽ viện trợ cho
VN sau này. Muốn được thế, người
lãnh đạo phải vì nhân dân, vì
đất nước, can đảm và quyết tâm
tiến hành đưa ra ánh sáng những
chức quyền nào liên quan đến Bờ
Mu 18. Đây chính là hành động
thực dụng của việc dựng nước,
“Nhìn Thẳng Vào Sự Thật”, để có
thể đưa đến: “Trí tuệ, Đổi mới,
Đoàn kết và Phát triển Bền
vững”. Ngoài ra, hành động thanh
trừng tham nhũng còn là thước đo
bề dày cách mạng của những con
người đi làm cách mạng, chứ
không theo cách mạng để lợi dụng
chức quyền bóc lột của dân. Do
đó, đảng cần đổi mới trong sự
nghiệp lãnh đạo, song song với
hiện đại hóa cuộc cách mạng khoa
học cũng như cách mạng kỹ nghệ.
Điều quan trọng nữa, theo như
ông Hoàng Tùng, nguyên bí thư
Trung Ương Đảng có nói: ”Cái gốc
của vấn đề chống tham nhũng,
theo tôi, lại phải giải quyết
chuyện dân chủ trong Đảng. Không
có dân chủ trong Đảng là nguyên
nhân quan trọng nhất dung túng
tham nhũng”.
Ấy
là cốt lỏi, là điểm hội tụ và
nguyên nhân khởi sinh yếu tố Tân
Trào, nhằm mục đích phụ vụ nhân
dân. Cho nên rút tỉa từ yếu tố
lịch sử, sở dĩ triều đại nhà Lý
an lạc muôn dân an hưởng thái
bình vì trung niên Lý Công Uẩn
đã dựng nước theo tư tưởng an
dân, và tinh thần duy lý dân tộc
làm chuẩn, kinh qua khuôn mẫu
của chữ Nhân lẫn chữ Đạo. Đạo
làm vua và nghĩa làm tôi. Ngài
đã lấy “chí nhân thay cường đao”
lấy đức hành đời và lấy dân làm
chủ, tận diệt các quan lại tham
ô. Khái niệm an dân lập nghiệp
luôn luôn được bước nhịp cùng
một xã hội công bằng, một cơ
quan quyền lực chí công vô tư,
bởi dân, cho dân và vì dân. Đây
chính là tư tưởng và ý niệm của
Tuyên Ngôn 1945. Nếu những ai đi
lệch lại ý niệm cũng như tinh
thần Hiến pháp 1946 thì đất nước
sẽ bị chậm tiến và lạc hậu. Lạc
hậu như thời nhà Nguyễn không
chịu lắng nghe những đề nghị
canh tân đất nước của Nguyễn
Trường Tộ về cuộc cách mạng kỹ
nghệ ở Âu châu đã bùng nổ sau vụ
phát minh động cơ chạy bằng hơi
khí và bóng đèn chúc ngược.
Đại hội đảng lần thứ X còn có
thêm một dấu ấn quan trọng khác,
ấy là sự hiện diện của nhà điện
toán Bill Gates. Sự xuất hiện
của Bill trong các công viên đại
học hay trên các đường phố Việt
Nam, như một biểu tượng của một
cuộc cách mạng điện toán được
lan tràn đến VN. Chúng ta thử
nhìn bối cảnh của Đại Hội X khi
mà “nền kinh tế thị trường mang
định hướng XHCN” đang được bàn
bạc trong nghị trường, nhằm mục
đích bám chặt di sản Xã Hội Chủ
Nghĩa, nhưng bên cạnh ấy họ lại
khát khao một nền kinh tế thị
trường. Cùng lúc ấy, xuất hiện
của Bill Gates như một tiếng
chuông đánh lên cho những người
lãnh đạo hãy nỗ lực canh tân đất
nước nầy bằng con đường khoa học
kỹ nghệ. Thử nhìn ngược lại nước
Mỹ, cách mạng kỹ nghệ bắt đầu từ
năm 1930 tại thành phố Chicago
bằng một định đề mang tên The
Olduvai Theory of Industrial
Civilization. Trong đó, nhiệm vụ
của chính phủ Liên bang đã đóng
góp một cách tích cực vào công
cuộc khai sinh và phát huy nền
kỹ nghệ Hoa Kỳ. Ngược lại chính
phủ Liên Bang đã dành quyền độc
lập hoàn toàn quyết định của các
nỗ lực Kỹ nghệ hóa của các công
ty tư nhân. Và nữa, phát triển
kỹ nghệ hoặc tiến đến một nền
kinh tế tri thức chỉ là bước
theo sau của sự cải tổ về giáo
dục. Giáo dục phải hoàn toàn độc
lập, không chịu ảnh hưởng bởi
các hiện tượng chính trị.
Nếu Bill Gates đến với Việt Nam
như một luồng gió mới thổi vào
sinh khí mới cho một đất nước
đổi mới. Đổi mới tư duy để bắt
kịp một nền kinh tế hội nhập
toàn cầu. Song song với những nổ
lực đổi mới kỹ nghệ, giáo dục và
kinh tế. Kỹ nghệ quốc phòng còn
là một vấn đề phải được đặt lên
hàng đầu. Chỉ có sức mạnh mới
bảo vệ được hòa bình. Thế thì ai
sẽ là người giúp ta để kỹ nghệ
quốc phòng được thích nghi với
nhu cầu đất nước? Đây là một câu
hỏi mà có lẽ không ai phủ nhận
được rằng chỉ có Hoa Kỳ mới là
quốc gia duy nhất có đầy đủ khả
năng để giúp ta cải tổ kỹ nghệ
quốc phòng.
Nhiệm vụ và con đường trước mặt
của Đại Hội lần thứ X chẳng
những chỉ đánh dấu một chu kỳ
của Đại hội thay chức đổi tên.
Mà nó và chính nó mang một trọng
trách lịch sử như Đại hội I và
Đại hội VI. Nó phải dung hòa,
nhưng phải đứng ra ngoài ảnh
hưởng cả hai thế lực Hoa
Kỳ-Trung Quốc. Đây là một thách
thức chính trị cùng sự cải tổ,
thanh lọc, đổi mới, trí tuệ và
quyết tâm chỉnh đốn đội ngũ lãnh
đạo “chí công vô tư” để phục vụ
đất nước, để đất nước nầy, của
chúng ta, của các em, của các
con vẫy tay trong thiên kỷ mới.
Từ
đáy lòng của kẻ viết bài nầy,
bằng cả trái tim lẫn lý trí của
con người rất Việt Nam ao ước
muốn thấy một Việt Nam phú
cường, đạt thịnh. Cũng tụ điểm
ấy, mong sao niềm mơ ước kia sẽ
trở thành sự thật để chúng ta
không hổ thẹn với tiền nhân đã
dày công dựng nước.
|