| |
 |
|
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt |
Kể năm 1980
nền giáo dục việt nam đã được cải tổ (reform). Cải tổ từ nội
dung, quy trình, phương cách tổ chức và ngay cả sách giáo
khoa. Thế nhưng, nếu ngay thẳng định chuẩn lại giá trị của
nền giáo dục Việt Nam chúng ta thấy rằng cuộc hành trình 26
năm qua chưa đủ để có thể đào tạo những “tân khoa” khai
triển và thực dụng kiến thức từ giảng đường đại học, ứng
dụng vào sinh hoạt thực tế hằng ngày, hầu góp phần vào việc
xây dựng đất nước.
Ấy là một thực tế, thực tế rất phũ phàng. Phũ phàng từ giáo
trình của các em từ lớp 1 cho đến đại học. Nếu nhìn vào
chương trình học tập của các em học sinh và sinh viên, chúng
ta phải buộc miệng kêu rằng: “Trời ơi! khó quá làm sao học
nỗi”? Thật thế, nếu đem so sánh với các chương trình giáo
dục Việt Nam và Hoa Kỳ, sinh viên học sinh Việt Nam học khó
hơn ở mỹ gấp đôi. Một trường hợp điển hình, chương trình
giảng dạy ở đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh nhiều hơn
ở mỹ gấp 3 lần. Ở bậc cử nhân có nhiều môn dành cho bậc cao
học (thạc sĩ) sinh viên vẫn phải học. Riêng hệ thống giáo
dục của Mỹ vừa học, vừa chơi. Nhưng chơi mà hiểu và sinh
viên có thể thực dụng khi tốt nghiệp. Ngược lại học sinh hay
sinh viên Việt Nam, học khó, thi khó, khó từ cách học bài,
làm bài và trong thi cử. Ví dụ, ở Mỹ sinh viên theo học mỗi
mùa (semester) trong vòng 4 tháng, trong 4 tháng giáo sư sẽ
cho thi tại lớp trong trường 3 hoặc 4 lần, mỗi lần trước khi
thi giáo sư sẽ cho câu hỏi trước (study question), có thể 10
câu hoặc 15 câu. Phần đông giáo sư sẽ ôn lại những chương
(chapter) nào đã học hoặc câu hỏi nào mình sẽ hỏi để sinh
viên chuẩn bị học trong kỳ thi cuối khóa (final exam) . Tóm
lại đề thi chỉ trong vòng những câu hỏi mà giáo sư đưa ra
trước và được ôn lại (review) trong lớp trước khi thi. Ngoại
trừ những lớp thi lấy bằng chuyên khoa (board certified) sẽ
do tiểu bang tổ chức.
Riêng tai
Việt Nam, chương trình học quá dài, giáo sư vào lớp đọc bài
cho học sinh chép nhiều hơn giảng. Từ đó, đưa đến thói quen
là học từ chương chứ không có tính sáng tạo. Nhất là không
có một lớp nào dạy cho sinh viên về phương pháp nghiên cứu.
Đã thế ở bậc đại học tất cả các môn học đều có tính bắt buộc,
sinh viên không được quyền lựa chọn. Ngược lại ở Mỹ, sinh
viên có quyền lựa chọn (selective) môn mình thích đến 1/3
thời gian.
Nhìn chung quy trình học và hệ thống thi cử tại Việt Nam khó
đến như thế nào thì chúng ta đã biết. Thế thì, liệu rằng
giữa cái khó học, thi khó của Việt Nam và cái dễ học, dễ thi
của Mỹ, tân khoa nào có thể đem kiến thức từ giảng đường
thực dụng vào công việc hằng ngày hiệu quả hơn? Bằng thực tế
chúng ta đã thấy câu trả lời cho câu hỏi nầy.
Sự khác biệt
giữa hai nền giáo dục là do bởi giáo trình và chính sách
giáo dục gây nên. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn vào thực tế,
nghĩa là nền giáo dục Việt Nam phải được đặc ưu tiên và trở
thành một ngành chính yếu, chứ không thứ yếu. Ngân sách giáo
dục phải được ưu tiên song song với ngân sách của các ngành
khác. Và nữa, đã đến lúc chúng ta phải chấp nhận một cuộc
cách mạng giáo dục (education revolution) thay đổi toàn diện,
thay vì cải tổ (reform). Vì lẽ cải tổ chắc chắn sẽ còn những
vướng bận tạo nên nhiều khó khăn cho nền giáo dục hiện nay.
Nói cho cùng,
cách mạng nào cũng thế, khi nói đến cách mạng nghĩa là chúng
ta chấp nhận hy sinh. hy sinh thế hệ nầy cho thế hệ tương
lai. Nếu 26 năm qua (1980-2006) nền giáo dục nước ta chưa
được hiệu quả để đáp ứng nhu cầu đất nước, thì năm 2006 là
thời điểm bắt đầu thực thi cuộc cách mạng giáo dục bằng tất
cả tấm lòng và lý trí

________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|