| |
Cây chùm gởi. Là người Việt Nam có lẽ không ai không biết sự
hiện hữu của cây chùm gởi trên các thân cây hay nhánh cây.
Sự đến và sự dính liền của cây chùm gởi ít ai biết được bằng
cách nào, trong khoảng thời gian nào. nhưng sự có mặt đó
trên các nhánh cây tự nó nói lên “cõi tạm” hay “không gốc rễ”
hoặc “ăn nhờ ở đậu” của nó. Điểm khác, phần hồn của cây chùm
gởi đi về đâu nào ai biết, nhưng phần xác ấy đã lây lất trên
thân và cành cây không có sự lựa chọn. Riêng đối với con
người mang thân phận ly hương nào có khác gì cây chùm gởi
đâu? Chúng ta hãy nghe lại lời nói của hai nhà đại cách mạng
dân tộc:
Thứ nhất, cụ Phan Bội Châu sau những ngày bôn tẩu Đông Kinh,
khi người trở về bị thực dân Pháp bắt giam tại núi Ngự (Huế).
Người đã nói cùng những đồng chí rằng:” Cho dù nay tôi trong
vòng lao lý, chim lồng cá chậu. Nhưng cái lao lý trong lòng
quê hương vẫn hạnh phúc hơn những ngày bôn tẩu hải ngoại.
Ngẫm lại thời gian ấy, thân tôi như cây chùm gởi, gặp đâu
bám đó, chẳng có người thân”.
Thứ hai, cụ Phan Châu Trinh trước khi sang Âu châu tìm đường
cứu nước. Trong tiệc tiễn đưa cụ lên đường. Cụ đã nói cùng
các nhà cách mạng xứ Quảng Nam, trong đó có sự hiện diện của
các cụ: Phan Thành Tài, Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu La Nguyễn
Thành, rằng:” Cái khổ nhất của tôi bây giờ là phải làm thân
chùm gởi, nay đây mai đó trên xứ lạ quê người. Nhưng vì vận
nước nghiêng ngửa nên tôi phải quyết tâm ra đi cưu mang
nhiệm vụ với dân và với nước. Mong rằng ngày trở lại sẽ có
những đổi thay”.
Sau nhiều năm làm thân chùm gởi cụ đã trở về đất nước chúng
ta. Ngày tàu cập cảng Sàigòn, cụ đã tuyên bố cùng bạn bè
rằng: “Từ nay, tôi không còn là cây chùm gởi nữa. Tôi sẽ
sống và sẽ chết trên mảnh đất quê hương, chia xẻ những niềm
vui và nỗi buồn cùng đồng bào, giống như chim về tổ và lá
rụng về cội”. Lúc ấy hành trang trên vai của cụ là làm sao
có thể tập hợp được quần chúng, thể hiện tư duy rất người và
vì người để tranh đấu cho quyền lợi người dân trong tay thực
dân Pháp. Từ cái tư duy ấy, cộng thêm lòng quyết tâm, chấp
nhận cực hình, cụ đã viết thư trực tiếp đến toàn quyền Pháp
đòi hỏi dân chủ tự do cho dân tộc, khởi động và lãnh đạo
phong trào xuống đường chống xâu cao thuế nặng tại Quảng
Nam. Mặt khác cũng từ Quảng Nam cụ đã phát động phong trào
đàn ông cắt tóc ngắn và không nhuộm răng đen, đã được cả
nước hướng ứng và đã làm cho bọn thực dân Pháp hoãn sợ cái
khí thế mới và tinh thần duy tân của con người Việt lúc bấy
giờ.
Đi từ những trăn trở và quan niệm về thân phận chùm gởi của
hai nhà cách mạng tiền bối, chúng ta ngẫm lại chính mình làm
thân phận chùm gởi đã 30 năm qua. Thế mà, cho đến giờ nầy
chúng ta vẫn loay ngoay, ngập ngừng không chịu nhìn vào thực
tại để nhận ra những bế tắc của đất nước, hầu hóa giải những
trăn trở của dân tộc trở về cùng với dân tộc, để con người
gặp nhau với cái uyên nguyên cội nguồn của nó. Đây chính là
giai đoạn dài của 30 năm bỏ nước ra đi, đêm nằm gát tay lên
trán hỏi mình đã làm được gì cho nơi tạm dung, và được đón
nhận ở mức độ nào khi ta vẫn còn ngỡ ngàng ngôn ngữ hay khập
khễnh ở nơi cộng đồng. Hoặc đôi khi, ta hỏi lòng mình trong
30 năm ấy đã đóng góp được gì cho tổ quốc, khi tổ quốc cần
đến chúng ta? Nhìn lại dòng lịch sử dân tộc chúng ta không
có vấn đề trên lập trường dân tộc hay xu hướng lịch sử mà
chỉ trên quan điểm. Quan điểm có thể thay đổi hay xung khích
nhưng sinh lộ dân tộc thì luôn luôn bất diệt vì nó bất diệt
và trường tồn. Nói một cách khác cụ thể hơn, dân tộc là một
tập hợp toàn thể, dân tộc đứng vững và độc lập do lòng tự
tin và ý chí sắt đá. Thế thì dân tộc sẽ không có sự khác
biệt hay chia rẽ để dân tộc ly bôi, vì mẫu số dân tộc nên
được sắp đặt ở thứ vị trên hết và trên cao. Dân tộc chúng ta
là dân tộc Việt Nam, có cả bầu trời Việt nam bao la, có hồn
thiêng sông núi, nên tự nó không thể và không bao giờ đánh
mất không gian sinh tồn của dân tộc. Vì thế, không một cách
ngăn hay dị biệt nào để chúng ta không thể hàn gắn những đổ
vở do các hiện tượng thời đại gây nên. Xa hơn thế nữa, cho
dù dân tộc chúng ta đã trải qua những bể dâu ác mộng hay
tang tóc bởi nhiều yếu tố hải ngoại. Nhưng nói cho cùng khởi
điểm của vong thân không thể đồng hóa hay chiến thắng trên
cùng xu hướng dân tộc đại đồng. Và nhờ ở cốt lõi dân tộc nên
tất cả các hương phấn ngoại bang chỉ là phấn hương thời đại
nên không thể tồn tại được.
Trên căn bản ấy, con người Việt được thừa hưởng tinh thần
Nho giáo trên cơ sở cội nguồn gắn liền với đơn vị làng xã và
đạo nghĩa hiếu trung. Trung với nước và hiếu với dân là một
nhị nguyên trong nền tảng dân tộc. Cho nên, kẻ sĩ Nguyễn
Đình Chiểu sáng rở trong cái mù đã phô diễn tư tưởng con
người qua hình ảnh Lục Vân Tiên:” Trai thời trung hiếu làm
đầu. Gái thời tiết hạnh làm câu răn mình”. Từ những cốt lõi
ấy, con người có phấn hương và nhụy sống, khởi sắc xuân thu
nhị kỳ, nghĩa là con người sống với dân tộc và sẵn sàng chết
cho dân tộc. Nếu con người cho dù sống trên nhung lụa nhưng
nếu không có yếu tố dân tộc phủ che làm nền tảng hay đùm bọc
che chở thì có khác gì như cây chùm gởi đâu? Lịch sử của
người đâu phải lịch sử của ta và văn hóa của người đâu thể
nào hội nhập cùng ta. Đó là nhất nguyên không có sự hòa đồng
và vô cực.
Dân tộc không thể đặt ở thứ vị vua tôi. Vì dân tộc ở trên
vua. Nho giáo quan niệm Vua là con Trời (Thiên Tử) nên thần
dân phải tuân phục. Điều nầy chỉ có thể áp dụng vào thời
điểm nào đó thôi và Nho giáo chỉ được tuân thủ trong một
phạm vi hạn chế, như trường hợp có sự so sánh cân nhắc giữa
Vua-Tôi và dân tộc, hay giữa dân tộc và cá nhân hoặc gia
đình, chính vì thế mặc dầu ảnh hưởng Nho giáo đã ăn sâu vào
con người Việt Nam qua nhiều thời đại và ảnh hưởng sâu đậm
vào gia đình, tinh thần gia tộc tính và xã hội. Tuy nhiên,
những đơn cử đưới đây đã chứng minh được rằng Nho giáo chỉ
có thể ảnh hưởng ở một góc độ hạn chế nào đó, còn ngược lại
khi đối diện với bản sắc dân tộc, giữa tinh thần đạo giáo và
dân tộc sẽ được cân nhắc và phân biệt rõ ràng, qua các dữ
kiện và hình ảnh như sau:
- Nguyễn Trãi là một nhà Nho trọng nghĩa nhưng ông không phò
Trần mà theo Lê diệt Minh; cho dù ông là hậu duệ của nhà
Trần. Nguyễn Trãi đã giải quyết cũng như phân biệt được giữa
tình nhà và tình nước. Ông càng khẳng định và phân biệt một
điều rất rõ là yêu nước không có nghĩa là yêu nhà Trần, từ
đó ông đi đến việc giải quyết những bế tắc thời đại qua hình
ảnh Bình Ngô Sách bằng thực hiện giấc mơ đánh Minh qua hình
ảnh Lê Lợi. Đây là một quyết định sáng ngời vì ông đã đặt sự
sống còn của dân tộc lên trên sự tồn vong của triều đại(1).
- Khi vua Tự Đức dâng ba tỉnh Nam kỳ cho Pháp, tất cả các
nhà Nho (theo đạo Nho giáo) đã đồng loạt phản đối. Riêng nhà
Nho Phan văn Trị còn đòi “chém đầu Tự Đức, moi gan Tự Đức,
uống máu Tự Đức”. Tiếp theo các nhà Nho vào cuối thế kỷ XIX
đã bỏ nhà Nguyễn khi nhà Nguyễn đầu hàng giặc. Những nhà Nho
nầy đã theo tiếng gọi của non sông tiến hành cuộc chiến
chống giặc và chống lại triều đình nhà Nguyễn. Gần hơn, khi
Bảo Đại bỏ bê triều chính, suốt ngày chỉ gái và rượu, cúi
đầu vâng lệnh quan Tây, tất cả các nhà Nho miền Nam, miền
Trung và nhân sĩ Bắc Hà đã đòi xử trảm Bảo Đại ở cái tội bù
nhìn và vong thân (2).
Chí sĩ Trần Cao Vân xuất thân giòng dõi khoa bảng, người
chịu rất nhiều ảnh hưởng Nho giáo, khi bị thực dân Pháp và
triều đình Huế xử yêu trảm (chém ba khúc). Ông đã lập bàn
hương án quay về đất Quảng Nam mà lạy tạ mẹ già rằng: “ Xin
mẹ hãy giữ mình và tha thứ cái tội bất hiếu của con đã không
săn sóc mẹ khi tuổi giàï. Nhưng vì tiếng gọi non sông nên
con đã đặt tình nước lên tình nhà… (3).
- Gần hơn, phi công Phạm Phú Quốc, người đã dội bom muốn
giết Tổng thống Ngô Đình Diệm, khi bị bắt và bị An Ninh Quân
Đội tra tấn cực hình. Cụ bà, thân sinh của anh Quốc từ Hội
An vào thăm khi thấy mình mẫy của anh bị bầm tím, mang nhiều
vết thương do đánh đập gây nên. Thay vì ôm con khóc lóc cụ
đã tĩnh táo mà khuyên anh Quốc rằng: ”Mẹ nay đã già rồi, con
đừng bận bịu nữa mà con hãy nghĩ đến tình nước lên trước.
Cái đau thể xác của con hôm nay sẽ không đau bằng cái nhục
nô lệ và độc tài, cho nên con hãy can đảm chấp nhận mọi hình
phạt cho dù sau nầy ra sao mẹ vẫn vui lòng và hãnh diện về
giòng họ Phạm Phú” (5).
Nhìn lại những đơn cử trên chúng ta thấy được đối tượng để
phục vụ cho đất nước là con người. Con người luôn luôn có sự
bất đồng nhưng đất nước thì không. Đất nước là một nhất
nguyên. Nhưng nếu đã vì đất nước tại sao chúng ta không đặt
quyền lợi đất nước lên trên những định kiến và ảo tưởng. Bất
đồng hay đối lập là một yếu tố thể hiện tinh thần dân chủ.
Tuy nhiên bất đồng trên chính kiến không có nghĩa là chống
đối hay đạp đổ. Đất nước, con người và State of Viet Nam (Quốc
Gia Việt Nam) sẽ không thể chấp nhận bất kỳ một cuộc phá
hoại nào để làm chậm bước tiến của dân tộc. Cho đến nay bài
học để chúng ta chia xẻ cho nhau, lãnh tụ Quốc Dân Đảng Đài
Loan ông Liên Chiến đã được Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tiếp đón như
một vị nguyên thủ quốc gia, trên bức tường của hai vị quốc
khách đứng chụp hình có viết hai chữ lớn “Quốc, Quốc”. Trở
lại lịch sử Trung Hoa, khi đất nước họ bị Nhật bản xâm lăng,
cả hai kẻ tử thù Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch đã vì
quyền lợi quốc gia mà gát thù riêng liên kết lại để đánh
đuổi Nhật. Thế thì, đất nước đã thống nhất 30 năm rồi, và kẻ
ly hương cũng bước theo cùng thời gian ấy. Thế sao chúng ta
không nói những lời từ biệt với quá khứ để giải quyết những
bế tắc có thể giải quyết, những đóng góp có thể đóng góp.
Hãy hiểu với nhau rằng kỷ niệm 30 tháng 4 là ngày thống nhất
đất nước không còn chiến tranh, chứ không phải ngày của
chiến tranh hay gợi lại những hận thù qúa khứ. Đây chính là
những vết bầm mà dân tộc gánh chịu, nên chúng ta phải vượt
qua, bỏ lại sau lưng, không đợi chờ hay trì hoãn để thế hệ
tương lai không bị mặc cảm bởi quá khứ và bị phá sản ở tương
lai.
Bài hát con chim đa đa “không thích lấy chồng gần, chỉ thích
lấy chồng xa” là một xúc tác thời đại nói lên một chuyện
tình thời đại chưa quen mặt hoặc biết tên, nặng phần phiêu
lưu về yếu tố kinh tế và nhu cầu đáp ứng của cung, cầu.
Nhưng chim đa đa rồi cũng bay về tổ, vì chim đa đa là hiện
thân cây chùm gởi. Con người Việt chúng ta vẫn thế, chúng ta
không thể tiếp tục làm thân phận cây chùm gởi nữa mà hãy
cùng nhau bắt tay vào vận hội mới, vận hội ấy là bước đi lên
và đi tới của cả dân tộc đang chờ đón mọi bàn tay, mọi ý chí
với tất cả quyết tâm và lòng thành.
Nguyễn Hữu Hoạt

________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|