| |
Tiến sĩ
Nguyễn Hữu Hoạt
Nếu
chúng ta định nghĩa tư tưởng là một sản phẩm vô dạng, hay kho tàng vô
giá của tiềm năng, không phân biệt tuyệt đối hay tương đối. Thì đời sống
con người dĩ nhiên và tuyệt đối đã được sống và trưỡng thành theo từng
luồng giao thoa từ sự chống chọi tư tưởng của sản phẩm. Chính vì thế,
những sản phẩm được phẩm định từ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa
là một tổng hợp được làm nên chất liệu trong đời sống con người. Do đó,
nếu trong tiến trình vận hành tư tưởng, tất cả những đặc tính và phẩm
chất, đều được lộ hình qua nhiều hình thái và màu sắc. Từ đó tất cả
luồng tư tưởng phát sinh, phải phù hợp và thích hợp với đời sống thực tế
nơi con người. Ngược lại, tự nó sẽ bị nghịch thái và đào thải bởi trào
lưu tiến hóa nhân loại, và nhân loại sẽ khước từ tất cả những biến thái
tư tưởng, có tính cách lãng mạn và mê thoa.

Vì thế, những
dạng bản đi tìm và phục vụ kết qủa của sản phẩm tư tưởng, phải được đem
lại phúc hạnh cho toàn thể con người, đáp ứng nhu cầu trong đời sống, và
phục vụ xã hội công bằng lành mạnh, chú trọng đến chiều hướng phát huy.
Muốn được như thế, tư tưởng phải tự do phóng khoáng, hoàn toàn không bị
gò bó hay ép buộc phải chấp nhận quy luật nào, hay sản phẩm tư tưởng nào
đi ngược lại trào lưu tiến hóa, cũng như lòng khát khao của dân tộc. Do
đó đối với J.J. Rousseau, ông cho rằng quyền tự do tư tưởng là một thứ
quyền "thứ nhất, trên hết, tuyệt đối" phải có. Từ đó tất cả những đặc
quyền tổng hợp (Sum) sẽ được phục vụ xã hội trên tinh thần đại đa số tác
hợp đồng thuận, tiến đến quyết định chung, tất cả cá nhân phải tôn trọng
và thi hành trong tinh thần cởi mở, và tự do phát biểu.
Riêng đối với
Marx, ông lại đi ngược lại sản phẩm tư tưởng của J. J. Rousseau, biến
con người đến chổ hoàn toàn Cộng sản. Nếu xã hội muốn có sự công bằng
không phân chia giai cấp hay đẳng cấp. Đối với Marx thứ vương quyền "tổng
hợp" (thứ nhất, trên hết, tuyệt đối) này sẽ phải triệt tiêu, để có thể
tránh đi biến thái xã hội, đưa con người đến chổ bình đẳng và không bị
bóc lột. Tất cả sẽ trở nên đại đồng dưới thiên đàng Xã Hội Chủ Nghiã.
Quan niệm nầy, chúng ta thấy có sự trùng hợp cùng với tư tưởng của Paine
hay Godwin. Trong đó họ đã đề cập đến xã hội, tự nó không thể có sự tập
hợp, nên xã hội cần sự giám định của một định chế thống nhất, từ tư
tưởng đến hành động qua hình thức tập trung và chuyên chế.
Tất cả các quan
niệm từ J. J. Rousseau cho đến Marx hay Paine hoặc Godwin chỉ là một thứ
sản phẩm tư tưởng phó bản, nếu tư tưởng đó không có khuynh hướng đi đến
tinh thần tự do chính trị, thích hợp với sự đòi hỏi ở con người. Chính
vì thế tự do chính trị là tâm a của vòng tròn, nó còn là trục quay biến
hóa hay quyết định tất cả những thịnh suy, hủy diệt, tồn năng trong đời
sống từ tâm linh đến vật thể con người. Quan niệm nầy ngày xưa Lão Tử
cũng đã từng khẳng định lập trường của mình, qua hình thức yêu cầu nhà
cầm quyền phải giử Їạo cho Đời và đời hãy vì đạo. Ngài đã quan niệm cả
hai từ đạo cho đến đời có sự gắn liền mật thiết, nương tựa lẫn nhau. Nếu
muốn được tồn tại trong tinh thần tự chủ và phát huy. Quan niệm nầy của
Lão Tử được tán đồng và hổ trợ tích cực của Trang Tử. Thế nhưng lại hoàn
toàn trái ngược với Dương Tử, ông cho rằng nếu con người có được tự do,
họ sẽ trở nên ích kỷ và phục vụ quyền lợi riêng tư cá nhân. Vì thế cá
nhân phải được tập họp, nếu muốn xã hội công bằng và trật tự (quan niệm
nầy giống như Marx).
Thế nhưng, đến
đời nhà Tần sau khi thống nhất được Trung Hoa, họ đã dựa theo tinh thần
của Dương Tử làm chuẩn, áp dụng chế độ quân chủ chuyên chế được thiết
lập và bảo vệ chặc chẻ. Hình thức chuyên quyền đã gặp sự chống đối mãnh
liệt của giới sĩ phu Trung Hoa dưới đời nhà Hán, nhà Ngụy, nhà Đường và
nhà Minh. Những sĩ phu nầy đã đề cao tư tưởng của Lão Tử và Mạnh Tử. Họ
dùng các tư tưởng ấy như một kim chỉ nam để vận động sự ủng hộ trong
quần chúng. Nhờ đó, tư tưởng và khuynh hướng chính trị tại Trung Quốc đã
được khai thông trên nhiều chiều hướng. Nhất là quan niệm tập quyền
chuyên chế đã có khuynh hướng dần dần thay đổi. Tuy nhiên sau biến động
ngoại xâm Mông cổ, Trung Hoa không còn lựa chọn nào khác hơn về quyền
dân chủ hay tự do. Họ phải miễn cưỡng chấp nhận một định chế đi ngược
lại tư tưởng của Lão và Mạnh tử. Mãi cho đến khi Nhật bản xâm lăng,
quyền quyết định về định chế chính trị bị kềm kẹp bởi gọng kềm Phát-Xít.
Sau đó cho đến năm 1949, Trung Hoa mới có quyền quyết định các định chế
xã hội dân sự.
Trong quá khứ
tinh thần dân chủ và tự do đã phát xuất từ trước thế kỷ thứ VI tại Hy
lạp. Tinh thần được khởi sinh bởi ý niệm dân chủ phân quyền, ấn định vai
trò cũng như quyền hạn của công pháp và tư pháp. Đồng thời quyền phát
biểu cá nhân cũng được thẩm định và tôn trọng trong các buổi sinh hoạt
nghị hội. Mặc dầu ý kiến đó không nhất thiết phải hoàn toàn thích hợp
với đại đa số. Theo sau Hy lạp, La mã cũng đón nhận tinh thần dân chủ và
tự do như một điều kiện căn bản cần thiết phải noi theo. Dần dần khởi
điểm "Hy Lạp" bành trướng sang Anh Quốc, được John Locke chấp nhận và
khai triển như một thứ kinh điển lan tràn khắp Âu châu và các quốc gia
Tây phương sau nầy. Hơn nữa chính cá nhân John Locke cũng đã yêu cầu nhà
Vua thi hành nhân quyền và giải tán chế độ quân chủ chuyên chế nhiều lần.
Dĩ nhiên đòi hỏi nầy không phải một sớm một chiều mang lại kết qủa. Thế
nhưng tiếng chuông dân chủ và tự do đã được Locke gióng lên một cách
trân trọng, trong trạng thái hữu cơ, thiên nhiên, đồng lòng, hợp pháp,
hữu lý và hợp tình. Ngoài ra Locke còn truyền đạt thông điệp dân chủ,
dựa theo tiến trình thành lập xã hội trật tự, công bằng. Dựa trên căn
bản luật và lệ (a) cũng như luật và pháp (b).Tất cả các định ước nầy (gồm
có a+b) phải được dựa theo đại đa số đồng thuận với tỷ lệ 2/3. Ông còn
đưa ra nguyên tắc phân quyền để tránh chuyên quyền, cũng như quy luật
kiểm soát và cân bằng "Checks and Balance).
Bên cạnh tư
tưởng của Locke, chúng ta thấy sự đồng dạng và đồng thuận cùng với
Montesquieu tại Pháp về căn bản của tự do dân chủ, theo khuôn mẫu John
Locke. Tuy nhiên Montesquieu kẻ một vòng tròn ranh giới về tự do trong
khuôn khổ Pháp định và hiến định, được đóng khung trong mô hình tam
quyền phân lập (Hành pháp, Lập pháp, Tư Pháp). Ông còn đi xa hơn Locke
về các khuyến cáo thành lập Hiệp hội, Đảng phái, Nghiệp đoàn với tinh
thần tự do, nhưng không được xâm phạm quyền tự do cá nhân, hoặc có hại
cho tập thể. Từ những di sản đó, nước Pháp kể từ sau cuộc cách mạng 1789
đã bắt đầu ló dạng những cơ sở phân quyền, dựa theo tinh thần dân chủ.
Đồng thời họ cũng nổ lực vận động để được thành lập Hội Nghị Qui Ước,
trong mục đích bảo vệ các quyền căn bản của con người, như tự do báo chí,
tự do phát biểu, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng. Nhất là quyền tự do lựa
chọn lá phiếu của cử tri.
Cho đến đầu thế
kỷ thứ 19, tinh thần tự do dân chủ được hình thành trên các quốc gia Tây
phương. Nhất là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy sĩ v.v... Sự hình
thành nầy tùy thuộc vào giai đọan lịch sử, cũng như trình độ dân trí
hoặc yếu tố địa dư. Đôi khi còn tùy thuộc vào phong tục tập quán, ở từng
địa phương trong thời gian phôi thai. Như trường hợp tại Anh có nhiều
luật khi làm ra được nghiên cứu dựa theo "thông lệ" của từng địa phương.
Vì thế mới có trường hợp "Common law" ra đời.
Sự ra đời của
Common law được sự tán thành và hổ trợ của nhiều quốc gia tây phương.
Tuy nhiên muốn có tự do thật sự theo chiều hướng của Alexis thì: Thực
thi tự do trước tiên phải ban hành một đạo luật bình đẳng giữa người và
người, không phân biệt màu da, địa phương, tôn giáo, giống đực hay giống
cái. Song song với sự bình đẳng đó, Alexis còn đưa ra đạo luật chế tài
cho những ai lợi dụng tự do làm phương hại đến cá nhân người khác. Tuy
nhiên trái ngược với Alexis, Robert Owen, Pierre Joseph Proudhon, Claude
de Saint- Simon lại muốn rằng con người phải tập trung để thiết kế một
xã hội công bằng và bình đẳng, gạt đẩy đối tượng cá thể nơi tâm thức con
người và dồn mọi nổ lực vào sinh hoạt cộng sản, đúng theo đường lối và
chủ thuyết của Marx. Hiện tượng biến đổi nầy Marx hoàn toàn khai triển
dựa trên căn bản cộng sản luận của Hegel.
Ngoài ra Common
law còn là một bước tiến nhảy vọt, nhưng thực tiển. Được áp dụng đối với
quốc gia nào thật sự muốn biến đổi tinh thần dân chủ và tự do. Thế nhưng
tự do dân chủ và bình đẳng của Montesquieu hay John Locke đã gặp sự
chống chọi mãnh liệt từ Pierre eroux và Hythloday qua lời nói bất hủ của
họ: Đóng góp theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu". Đối với họ, khả
năng và nhu cầu là hai vế vừa phục vụ lại vừa thỏa mãn đòi hỏi. Đó
chính là quy luật, không bàn cãi.
Nói tóm lại, ở
tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng. Ba phân số được hóa đồng đã trở
thành mẫu số chung. Nếu mẫu số đó không ngoài mục đích phục vụ quyền lợi
con người, trong xu hướng thiên nhiên và tự nhiên có sự phối hợp nhất
định, dựa trên nguyên tắc lưỡng nghi. Nghĩa là lấy căn bản tư tưởng, làm
chất đối kháng chống lại manh nha bất công. Cho nên nếu những ai nhân
danh dân chủ, lợi dụng nó như một thứ trang sức, dùng nó che dấu hành vi
bạo ngược độc tài. Khi con người tĩnh táo và có điều kiện họ sẽ thức dậy
xô đẩy và mạnh dạng đứng lên phục vụ những đòi hỏi ở nhu cầu trong đời
sống. Dĩ nhiên giòng nước không bao giờ chảy ngược, vì thế không ai
trong chúng ta có thể lội ngược giòng. Do đó, không một cá nhân hay tập
đoàn nào, nhân danh và lợi dụng sức mạnh đi ngược lại quyền lợi con
người.
Chính vì thế dân
chủ và tự do là lý tưởng chính yếu, được con người quyết tâm đi đến điểm
cuối cùng, cho dù họ phải trả với bất cứ giá nào. Theo đuổi để phục vụ
dân chủ còn là một hình thức phản ảnh trung thực trong niềm tin hôm nay
và hy vọng ở ngày mai. Do đó tất cả những khuynh hướng chính trị nào
muốn được tồn tại lâu dài, vấn đề trước tiên những khuynh hướng đó phải
phù hợp với nguyện vọng thiết thực con người. Đồng thời nền dân chủ pháp
trị khi được thành lập phải hoàn toàn thích nghi và phổ cập thực tế
trong đời sống hằng ngày.
________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|