|
Người Việt chúng ta thường cho
rằng mọi hình thức văn hoá và con người phát xuất từ phương
bắc của Việt Nam, đặc biệt là từ vùng Hoa Nam của Trung quốc,
đều thuộc về Trung Hoa. Chúng ta vaãn gọi chung người Quảng
Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Khách Trú (Hẹ, Hakka)
là ngươì Tàu hay người Hoa, kể cả toàn bộ người dân sống ở
những vùng này cách đây hàng mấy ngàn năm cũng là người Tầu.
Chữ “Tầu” hay “Hoa” hàm ý nghĩa họ là những người khác
chủng với dân tộc Việt. Họ là người Trung Hoa, hay ngườì Hán.

Quan điểm nầy trước hết sai
lầm về mặt lịch sử xuất phát của dân tộc và đất nước Việt,
và sau đó tạo cho Hoa Kiều sống tại Việt Nam một mặc cảm tâm
lý chủng tộc khó hội nhập vào cộng đồng dân tộc và tạo nhiều
bất lợi cho nền kinh tế và văn hoá nước nhà. Bên cạnh đó
nước Trung Hoa to lớn về dân số lẫn đất đai không thể nào bỏ
qua việc vận dụng thành phần người Hoa sinh sống ở nước
ngoài để biến họ thành công cụ phục vụ cho chính quyền Hoa
Lục.
Quan điểm sai lầm nầy của
người Việt đối với người Hoa phát xuất từ quá trình đồng hoá
quá lâu của người Hán đối với các dân tộc Bách Việt tại vùng
Hoa Nam. Đồng thời nó phát xuất từ những nhận định sai lầm
về lịch sử của các triều đại trước đây.
Ngày nay những nổ lực khám phá
về lịch sử và địa lý miền Hoa Nam cổ đại, cũng như những
nghiên cứu về chủng tộc dựa trên DNA đã chiếu nhứng ánh sáng
mới giúp chúng ta đặt lại một số vấn đề cơ bản về chủng tộc
và lịch sử. Những nhận định cơ bản nầy sẽ là nền tảng lý
luận giúp chúng ta có một cái nhìn hợp lý về sử học nước nhà,
một chính sách ngoại giao dựa vào văn hoá đồng chủng với các
nước Đông Nam Á và các đảo quốc ở Thái Bình Dương, và một
sách lược văn hoá đối với người Hoa đang sinh sống tại Việt
Nam.
Địa Lý Bách Việt miền Hoa Nam
thời cổ đại
Sự hiện diện của văn minh Bách
Việt thời Thương Chu trong lịch sử Trung Hoa được đánh dấu
bằng câu chuyện sứ giả Việt Thường ở phương nam đem Bạch Trĩ
và Ruà sống ngàn năm để cống dâng cho vua nhà Chu. Lúc bấy
giờ lãnh thổ của nhà Chu chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà. Đến
thời Chiến Quốc, khoảng 500 trước công nguyên, một số dân
tộc ở Nam Trung Hoa mới xuất hiện trong sử Trung Quốc. Nổi
bật nhất là các nước Sở, nước Ngô và nước Việt.
Khi Sở, Ngô, Việt bị Tần Thủy
Hoàng sát nhập vào Trung Hoa, và khi Lưu Bang diệt được nhà
Tần (256-195 TCN) thì phía nam nước Sở vẫn còn là chủ quyền
của các dân tộc Bách Việt hoàn toàn độc lập và tự chủ. (Xem
bản đồ Trung Hoa thời Tần Thủy Hoàng ).
Đối với dân tộc Việt, truyền
thuyết xác định rằng dân tộc Việt phát xuất từ Động Đình Hồ
miền Lĩnh Nam. Sách Lĩnh nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ở
thế kỷ 15 kể Truyện họ Hồng Bàng như sau:
“Đế Minh
cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân
đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ
Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính,
thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối
ngôi mình.
Ngũ Lĩnh là năm rặng núi lớn ở
Nam Trung Hoa thuộc miền Lĩnh Nam. Miền Lĩnh nam đưọc sử
tây phương viết như sau “Lĩnh nam là vùng đất phia nam của
rặng Ngũ Lĩnh gồm các rặng Đại Dũ /Dữu Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh,
Đô Bàng Lĩnh, Manh Chử Lĩnh và. Việt Thành Lĩnh. Vùng nầy
gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây của
Trung Hoa hiện đại. Vùng nầy do dân Bách Việt sinh sống và
là tổ quốc của dân Nam Việt cổ đại” (xem http://en.wikipedia.org/wiki/Jiangxi
)
Tác giả Việt Sử Thông Luận cho
rằng, sau khi mất bản địa Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông, bắc Trung
Hoa), Đế Minh rút quân về Đông Đình Hồ để xây dựng căn cứ
địa văn hoá mới cho dân Việt. Tướng của Đế Minh là Si Vưu ở
lại giữ Thái Sơn và sau ba năm chiến đấu chống Hoàng Đế,
quân của Si Vưu tan rã và từ đó, dân Việt mất căn cứ địa văn
hoá Thái Sơn. Ngày nay, dân tộc Việt chỉ còn câu ca dao:
“Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra” để ghi dấu cái nôi văn hoá đầu tiên của dân Việt.
Khi Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần
thì ở phương Nam, Triệu Đà thống nhất được các nước Bách
Việt trong đó có cả nước Âu Lạc của tổ tiên chúng ta. Đó là
cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ nhất. Nhà Triệu truyền
ngôi được 4 đời thì bị nhà Hán xâm chiếm và miền Lĩnh Nam bị
bắc thuộc từ đó.
Đến thời kỳ Hai Bà Trưng, 40
năm sau công nguyên, Hai Bà đã thống nhất được 65 thành miền
Lĩnh Nam. Sử viết: “Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam,
Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam.
Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.” Đây là
cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ hai.
Các nhà nhân chủng học Đài
Loan gần đây đã tìm cách phục hồi lại nguồn gốc Bách Việt
của ngừời Đài Loan như Phúc Kiến (Minnan, có lẽ là Mân Việt)
và Hẹ (Hakka) là hai giống dân đông nhất trên đảo. Hiện nay
có nhiều nghiên cứu về DNA đã xác định quan hệ chủng tộc của
các dân tộc Bách Việt. Cụ thể là trong tác phẩm nghiên cứu
nguồn gốc chủng tộc dựa vào gen di truyền (DNA) của nhà
nghiên cứu M. Liu của Mackay Memorial hospital và được viện
Nghiên Cứu Sức Khoẻ quốc gia của Đài Loan tài trợ, tác giả
M. Liu chứng minh là các giống dân miền Hoa Nam, Việt Nam,
Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương có liên hệ gen di truyên khác
biệt với chủng tộc Hán ở miền bắc. (http://www.wufi.org.tw/eng/linmalie.htm).
Những khám mới về nhân chủng
học của Đài Loan đã chiếu ánh sáng vào lịch sử nòi giống
Bách Việt. Chúng ta có thể xác định rằng dân Bách Việt đã
từng chiếm lĩnh miền Hoa Nam và dần dà bị Hán tộc xâm lăng
và đồng hoá. Chỉ có Việt Nam hiện nay tức là Âu Lạc, Lạc
Việt, Việt Thường và Đại Việt sau nầy, là còn giữ được văn
hoá của Bách Việt.
Vấn đề người Tàu lập đế nghiệp
ở Đại Việt
Sau khi đã xác định được địa
lý văn hoá vùng Bách Việt chúng ta hãy trở về với một bí ẩn
lịch sử của dân tộc ta. Đó là từ nhà tiền Lý (Lý Nam Đế) đến
nhà Tây Sơn, một số các các triều vua lớn được sử sách của
ta cho là có gốc từ Tàu.
Về Lý Nam Đế, sử gia Trần
Trọng Kim viết: “Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi
người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang
Giao Châu, đến lúc bấy giờ là bảy đời, thành ra người bản xứ.”
Về dòng dõi nhà Trần, Đại Việt
Sử Toàn Thư viết về gia phà của vua Trần Thái Tông như sau:
“trước kia tổ tiên vua là người đất Mân, (có ngườì nói là
Quế Lâm), có người tên là Kinh, đến ở hương Tức Mặc phủ
Thiên Tường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa,
đời đời làm nghề đánh cá. Vua con của Thừa, mẹ họ Lê … (ĐVSKTT
tr 159)
Về Hồ Quí Ly, Đại Việt Sử Ký
toàn Thư viết: “Quý Ly, tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là
Hồ Hưng Dật vốn ở Chiết Giang, đời Hậu Hán, thời Ngũ Quí
sang làm thái thú Diễn Châu.” (ĐVSKTT tr 293).
Về nhà Tây Sơn, Việt nam Sử
Lược của Trần Trọng Kim viết: “Nguyên tổ bốn đời của Nguyễn
Nhạc là họ Hồ, cùng một tổ với Hồ Quí Ly ngày trước…” (VNSL
Trần trọng Kim tr. 144).
Như thế thì có ít nhất là bốn
triều đại như Tiền Lý, Trần, Hồ, Tây Sơn đều là người gốc ở
phương bắc và xuống phương nam lập nên đế nghiệp.
Phải chăng những vị lập nên
các triều đại nầy là người Hán? Để giải đáp bài toán lịch sử
nầy chúng ta phải xét lại hiện tượng phục hoạt của Việt tính
hay ý thức Việt ở trong các triều đại nói trên.
Sự phục hoạt của Việt tính
trong thời kỳ Bắc thuộc
Từ khi cuộc kháng chiến chống
quân Hán xâm lược của Lữ Gia và Triệu Dương Vưong thất bại
(111 TCN) đất Nam Việt bị nhà Hán chiếm đóng và danh xưng
Việt đã bị linh lạc bởi quá trình đô hộ và đồng hoá. Từ thời
kỳ Hán thuộc trở đi, danh xưng Việt đã biến mất trong các
sách sử của Trung Quốc, và được thay thế bằng hai chữ An nam
và Giao Chỉ. Ngay cả thời kỳ Hai Bà Trưng danh xưng Việt
cũng chưa được phục hoạt.
Khoảng cách thời gian giữa Lữ
Gia và Lý Bôn là hơn 650 năm. Tại sao khi Lý Bôn (544) lên
ngôi ông lấy đế hiệu là Nam Việt Đế? Ý thức Việt đó ở đâu ra?
Phải chăng suốt 650 năm bị Hán hoá, một tầng lớp nhân dân
Bách Việt từ miền Lĩnh Nam rút về vùng đất Việt Thường vẫn
giữ vững ý thức Việt, lưu giữ và bảo tồn nó qua không gian
và thời gian.
Lịch sử chiếm đóng miền miền
Lĩnh Nam của nhà Hán đi liền với những nổi dậy của dân tộc
Việt và những cuộc nổi dậy đó bị đàn áp khốc liệt. Như sử
gia Trần Trọng Kim viết: “ Tổ tiên (Lý Bôn) ở đời Tây Hán
phải tránh loạn chạy sang Giao Châu.” Loạn ở đây phải hiểu
là những cuộc nổi dậy của dân bản địa nổi lên đánh đuổi
chính quyền đô hộ phưong bắc. Nếu cuộc nổi dậy thất bại
thì gia đình dòng họ của những người tham gia kháng chiến đó
chắc chắn phải bỏ xứ lưu lạc phưong trời khác.
Chỉ bằng sự xác định được quan
hệ giữa Bách Việt và Lý Bôn chúng ta mới hiểu được tại sao ý
thức Việt đã được phục hoạt trong phong trào độc lập của nhà
Tiền Lý. Nếu nói “Lý Bôn là dòng dõi người Tàu” như sử gia
Trần Trọng Kim viết, thì e rằng chúng ta không giải thích
được hiện tượng phục hoạt danh xưng Việt ở thời kỳ đó.
Đặc biệt là thời kỳ Lý Trần là
thời kỳ cực thịnh của văn hoá Việt. Câu hỏi có thể đặt ra là
nếu họ Trần có gốc Tàu thì tại sao họ Trần phải phục hưng
văn hoá Việt?
Hay như
trong hịch Tây Sơn của đức Quang Trung Hoàng đế kêu gọi :
“đánh cho được để tóc dài, đánh cho được nhuộm răng đen,
đánh cho nó chích luận bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất
hoàn, đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”. Nếu
cho rằng Quang Trung mang dòng máu Tàu thì tại sao ông đòi
đánh Tàu để dân tộc Việt được giữ gìn tục để tóc dài, ăn
trầu, nhuộm răng đen, để cho bọn Tàu biết là nước Nam nầy là
có chủ. Và khi đã diệt được quân xâm lược ngài đã yêu sách
đòi nhà Thanh phải trả lại miền Lưỡng Quảng, tức là vùng
Lĩnh nam thời cổ đại?
Chỉ có một câu trả lời hữu lý
duy nhất là ông tổ của các dòng họ như Lý Bôn, Trần Thừa, Hồ
Quí Ly và nhà Tây Sơn là những người thuộc giòng giống Bách
Việt. Những dòng tộc nầy đã thất bại trong những lần nổi dậy
chống quân xâm lược và đã lui về phương nam tìm đất sống.
Họ đã hoà nhập vào văn hoá Âu Lạc, Lạc Việt và Việt Thường
để trở thành người dân địa phương. Họ đã cùng với các dòng
tộc Việt địa phương nuôi duỡng ý chí Phục Việt âm thầm dưới
đáy tầng quốc dân từ đời nầy qua đời khác để lấy ý thức dân
tộc làm sức mạnh kháng cự tham vọng của Trung Hoa, để giành
lại độc lập cho dân tộc Việt.
Bách Việt trong Lòng Đại Việt
Nói tóm lại, lịch sử tồn tục
và tiến hoá của dân tộc Việt là hành trình lui dần về phương
nam trước sự lớn mạnh của Hán tộc để bảo tồn nòi giống. Từ
thời cổ đại, dân tộc Việt đã mất Thái Sơn là cái nôi văn hoá
đầu tiên. Sau khi Thái Sơn bị Hoàng Đế xâm chiếm, Đế Minh đã
rút về Đông Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa
văn hoá lần thứ hai. Khi Lữ Gia thất trận, các dân tộc Bách
Việt thuộc nước Nam Việt đã chạy vê phương nam hội nhập vào
Lạc Việt và Việt Thường để xây dựng lại căn cứ địa văn hoá
thứ ba.
Đây là lý do khi Hai Bà Trưng
khởi nghĩa các dân tộc Bách Việt thuộc 65 thành ở Lĩnh nam
đã hưởng ứng. Địa lý chính trị thời kỳ Hai Bà chính là vùng
Lĩnh Nam và nước Nam Việt cũ. Mặc dầu cuộc khởi nghĩa của
Hai Bà Trưng thất bại, công cuộc thống nhất Bách Việt của
Hai Bà đã tái hợp Bách Việt và kéo các dân tộc Bách Việt
ngồi lại với nhau. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà đã cho các
dân tộc Bách Việt và các gia đình vọng tộc ở miền Hoa Nam
niềm hy vọng phục hoạt dân tộc Việt. Vùng đất Âu Lạc với
những địa linh như Phong Châu, Mê Linh và những nhân kiệt
như Hai Bà Triệu và Bà Triệu, nêu tấm gương yêu nước và là
niềm hy vọng cho nòi giống Bách Việt.
Sau thời kỳ Hai Bà Trưng các
dân tộc Bách Việt với dân tộc Âu Lạc đã hội nhập lại với
nhau. Bên cạnh đó sự xuất hiện của Phật Giáo như là một hệ
thống triết học và văn hoá trong thời kỳ nầy đã tạo nên một
sức mạnh văn hoá mới được dân Việt nhanh chóng tiếp thu, và
đã giúp cho dân Việt có chổ dựa tinh thần và vật chất. Về
tinh thần, người Việt nhanh chóng tiếp thu Phật Giáo và hoà
nhập Phật Giáo vào văn hoá dân tộc để chống lại quá trình
Hán hoá. Về vật chất, chùa chiền trở thành những trung tâm
nối kết và vận động lịch sử từ miền Ngũ Lĩnh xuống đến tận
Việt Thường. Luy Lâu (Bắc ninh) trở thành trung tâm Phật
Giáo với các tổ sư xuất chúng như Mâu Bác và Huệ Năng. Võ
thuật cũng được phát triển mạnh mẽ vùng Lĩnh Nam trong thời
kỳ nầy. Do đó, chúng ta thấy bên cạnh những phong trào
kháng chiến thời Hán thuộc đều có bóng dáng của những cao
tăng. Và trong thời kỳ độc lập, các thiền sư như Ngô Chân
Lưu, Khuông Việt và Vạn Hạnh đã đóng một vai trò tích cực
trong việc phục hồi văn hoá dân tộc và xây dựng đất nước.
Nhờ những định chế văn hoá mới dưới hình thức tôn giáo nầy
các dân tộc Bách Việt ở Âu Lạc đã tụ họp với nhau, bảo lưu
được văn hoá và lịch sử dân tộc, và nuôi dưỡng được ý chí
phục Việt.
Vấn Đề Tái Kiến thiết Nền Văn
hoá Bách Việt
Sau gần một nghìn năm bị nòi
Hán đô hộ, hai triều đại Lý-Trần, khởi đi từ Lý Nam Đế, đã
phục hưng và phục hoạt lại nền độc lập và văn hóa Việt, xây
dựng một nước Đại Việt hùng mạnh suốt gần 500 năm.
Ngày nay đất nước ta đang bước
vào thế kỷ thứ 21. Sự lớn mạnh của Trung Hoa ngày nay hiện
đang là mối đe doạ cho sự tồn vong của dân tộc. Vấn đề biên
giới, lãnh hải, lãnh thổ giữa hai nước vẩn chưa ổn định và
sẽ là mầm mống mâu thuần trong tương lai và cho thế hệ mai
sau. Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là mối ưu tư hàng đầu
của mọi người Việt còn thao thức với đất nước.
Trong bối cảnh đó, xác định
được văn hoá Bách Việt và quan hệ chủng tộc giữa người Việt
và các dân tộc miền Hoa Nam là tiền đề cho một sức mạnh tinh
thần để đối phó với nước láng giềng phương bắc. Để khai quật
được sức mạnh tinh thần nầy, Người Việt cần có một suy nghĩ
mới và một chính sách văn hoá mới đối với các nước đồng
chủng trong vùng và đối với Hoa Kiều đang định cư tại Việt
Nam.
Cái cơ sở nền tảng để khai
quật được sức mạnh tinh thần nầy là ý thức rằng dân tộc Đại
Việt ngày nay là dân tộc thừa kế chân truyền di sản văn hoá
Bách Việt ngày xưa. Và di sản văn hoá và văn minh Bách Việt
cổ xưa đã được lưu giữ và bảo tồn trong trong quá trình hình
thành nước Đại Việt và Việt Nam hiện đại. Những dòng họ Bách
Việt xa xưa ở vùng Lĩnh Nam đã kéo nhau về phương nam, đem
theo di sản văn hoá Bách Việt hoà với dân tộc Lạc Việt và
Việt Thường để làm phong phú gia tài văn hoá của mình. Họ đã
biến Đaị Việt thành cái nôi văn hoá mới của đại Bách Việt để
nền văn hoá vĩ đại đó được tiếp tục bảo quản và sống mãi
trong lòng Đại Việt.
Với ý thức đó, người Việt hiện
đại phải có cái nhìn mới về lịch sử nước nhà, phải mạnh dạn
xác định sự đóng góp của các dòng họ Bách Việt trong quá
trình hình thành lịch sử và văn hoá nước Đại Việt và Việt
Nam hiện đại. Đồng thời chúng ta phải hãnh diện xác nhận dân
tộc Việt hiện đại là dân tộc kế thừa và là chủ nhân ông di
sản văn hoá Đại Bách Việt. Chúng ta phải đóng vai trò chủ
động làm sống lại lịch sử và văn hoá của các dân tộc đồng
chủng ở trong vùng và Hoa kiều trong nước.
Kết luận
Từ cơ sở lịch sử và địa lý
trình bày ở trên, người viết đề nghị hai sứ mạng văn hoá
như sau:
Thứ nhất, sự xác định tính
đồng chủng của các dân tộc Hoa Nam và Đông nam Á có chung
huyết thống Bách Việt như các nước Đông Nam Á, các dân tộc
miền Hoa Nam và Đài Loan và nổ lực tái kiến thiết văn minh
Bách Việt, sẽ là đối lực thích hợp đối với tham vọng về lãnh
thổ, lãnh địa và văn hoá của Trung Hoa. Từ nhận định đó,
chúng ta phải có một chính sách ngoại giao mới đối với các
nước Đông Nam Á. ASEAN sẽ có một vai trò văn hoá mới ngoài
vai trò kinh tế, chính trị và quân sự. Ý thức đồng chủng sẽ
giúp cho ASEAN mở rộng vòng tay để đón Đài loan và các đảo
quốc ở Thái Bình Dương nhằm mở rộng không gian Bách Việt mới
và để gây sức mạnh tinh thần trong liên minh các nước ở vùng
Biển Đông.
Hơn thế nữa, nhận diện được
tính đồng chủng Bách Việt, người Việt trong nước và hải
ngoại phải có một quan niệm mới về Hoa Kiều ở Việt Nam.
Đối với thành phần Hoa Kiều từ
miền Hoa Nam như người Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu,
Đài loan, trước hết người Việt chúng ta cần phải chấm dứt
não trạng xem họ là những người Tàu, người Hoa, người Hán.
Chúng ta phải coi họ là người Bách Việt, người Lĩnh Nam. Họ
là nạn nhân lâu đời của quá trình Hán hoá. Nhiệm vụ của
chúng ta là phải tái hội nhập họ vào cộng đồng văn hoá Bách
Việt hiện đại. Công tác văn hoá chủ yếu đối với thành phần
Hoa Kiều nầy là giúp họ ý thức được họ là dòng dõi Bách Việt.
Giúp họ phục hồi được lịch sử Việt để cho dòng máu Việt bắt
đầu chảy lại. Chúng ta phải giúp họ ý thức rằng mọi dân tộc
xuất phát từ miền Bách Việt ở Hoa Nam đều là ngươì gốc Việt
như chúng ta. Những người Hoa vùng Hoa Nam trưóc đây sẽ trở
lại với nguồn gốc chân chính của họ là người Bách Việt. Từ
đó, một cộng đồng dân tộc Việt mới sẽ được hình thành. Và
cộng đồng dân tộc mới nầy sẽ có sức mạnh văn hoá chất chứa
5,000 năm của Đại Bách Việt và một vùng địa lý văn hoá trãi
rộng từ Hoa Nam xuống tận Đông Nam Á. Sức mạnh văn hoá mới
đó có khả năng hoá giải sách lược dùng Hoa Kiều làm nội gián
cho chiến dịch xâm thực tầm gửi của Trung Quốc hiện nay trên
đất nước ta và các nước trong vùng Biển Đông.
Ý thức
tính đồng chủng với các dân tộc Bách Việt hiện đại là nổ lực
tìm lại căn cước văn hoá, xác định lại chủ quyền văn hoá đã
bị mất, nhằm phục hoạt ý thức dân tộc để định hướng cho
việc phát triển đất nước và làm hành trang cho dân tộc đi
vào thể kỷ 21. Một điểm cần lưu ý là ý thức dân tộc không
phải là tâm thức chủng tộc cực đoan của Nazi. Ý thức dân
tộc phải được xây dựng trên quan điểm nhân đạo cùng sống
giúp tiến với các dân tộc khác để thực hiện đời sống người
trong một xã hội càng ngày càng người hơn, văn minh hơn, và
trong một thế giói đưọc xây dựng trên những giá trị bình
đẳng giữa các dân tộc, trên sự tôn trọng nhân quyền và dân
quyền đã đưọc công nhận bởi tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và
các công ước về quyền dân sự và chính trị.
Nguyễn Xuân Phước
Tham khảo: Google search: “Bách Việt, Lĩnh
Nam, Linnan, Yueh, bai yuè, Lý Nam Đế, Lý Bôn, Quang Trung,
Việt Sử, Taiwanese DNA, betel taiwan, Hoàng Đế, Suy Vưu,
miêu, miao”
________________________________________________________________________
|
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|