| |
Những ngày đón Xuân sang, đức Khổng Phu Tử lang thang trên quê
người, lòng buồn man mác chạnh nhớ đến quê nhà. Tử nhìn dòng
sông nghĩ đến thân phận lưu lạc của mình chợt cất lời than vản:
“ Ô kià! dòng sông ngày đêm chảy mãi thế nầy ư!” (Thệ giả như
tư phù bất xả trú dạ!).
Một người như Tử, bốn biển đều là anh em “tứ hải giai huynh đệ”
đi đến đâu ông đều có bạn hữu, thế mà trong những ngày đón
xuân sang ông đã buồn đến thế, thử hỏi trong chúng ta là những
con người Việt xa tổ quốc Việt, xa cả dòng sông chiều và cành
mai đại thọ trước bàn thờ gia tiên trong ngày đầu xuân, làm
sao chúng ta không có những giây phút lắng lòng tưởng nhớ?
Cuộc đời đôi khi như một dòng sông, lúc trong lúc đục, nước
lên nước ròng, lúc yên lành nhưng cũng có khi gió động sóng
lay như lá phướn bay (trên cái nhìn khoa học chứù không phải
triết học. Triết học quan niệm lá phướn bay là do tâm không
tịnh chứù không phải tại gió). Và cuộc đời chỉ bước tới mà
không bước lui giống như dòng nước trên sông, chảy mãi không
ngừng... nên không có ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông
như Héraclite đã nói.
Lịch sử Việt Nam cũng vậy, chẳng bao giờ có sự trùng hợp, cho
dù hình thái kẻ thù có na ná giống nhau và đường lối thực dân,
đế quốc cũng như cách huấn luyện hoặc xử dụng tay sai, tiêu
diệt mầm mống cách mạng thì luôn luôn khác nhau, thiên hình
vạn trạng. Nhưng cho dù thủ đọan nào chăng nữa anh hùng nước
Nam vẫn không bao giờ thiếu hay không thể làm hao mòn hoặc mất
đi được cái phẩm chất tinh anh và lòng tự hào can đảm của dân
Việt. Như Yết Kiêu khi bị quân Nguyên bắt đã trả lời rằng:
“Tài như ta cũng lắm mà giỏi hơn ta lại nhiều”.
Thật thế, trong Bình Ngô Đại Cáo tiên sinh Ức Trai cũng từng
nói:
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã (Nhi)
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Ấy! Cái tuyệt vời của dân tộc ta là ở đó, từ cửa Hàm Tử, đến
Sông Bạch Đằng rồi đến Thăng Long tiếng trống Ngọc Hồi reo vui
trong ngày đại thắng mùa Xuân năm Kỷ Dậu của Đại Đế Quang
Trung, quân Thanh phải cuốn cờ bỏ chạy, mặc dù quân mã họ mạnh,
tinh thần xâm lăng họ cao, trí tuệ họ có, mưu lược họ thừa.
Dần dần nhờ sức đề kháng của dân tộc cuộc trường chinh của
thực dân Pháp sau 80 năm đô hộ nước ta được chấm dứt. Đánh dấu
cho một giai đọan lịch sử mới, hình thức mới đưa đến thỏa ước
Geneve, lằn ranh của dòng sông Bến Hải được định nghĩa như sự
ô nhục của bức tường Bá Linh. Nay cả hai đều thuộc về dĩ vảng.
Từ những chiến thắng lẫy lừng của cha ông chúng ta, có kẻ tiểu
học ngoại kiều sẽ hỏi làm sao một đất nước nhỏ bé như VN lại
có thể đánh bại những kẻ thù lớn nhất trong lịch sử? Cái gì đã
thôi thúc và sức mạnh nào đã giúp dân tộc ta giải phóng được
nô lệ và thống nhất đất nước? thu hồi tròn vẹn lãnh thổ của
tiền nhân khai sáng.
Rồi cũng có những kẻ đại học nội thù tay sai bù nhìn như Bảo
Đại, Phạm Quỳnh, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải đã tìm mọi cách
nối giáo cho giặc. Khi sinh tiền bao lần Khải viết thơ chiêu
dụ nhà cách mạng Phan Đình Phùng ra hàng giặc Pháp, nhưng tất
cả đều thất baiï. Cụ Phan đã được hấp thụ bởi cái đạo Việt nằm
trong tư tưởng của Khổng giáo đặt chữ trung tín lên hàng đầu.
Ngài đã áp dụng một trong ngũ luân ở câu: Chính kỳ nghị, bất
mưu kỳ lợi, minh kỳ đạo bất thế kỳ công (Tạm dịch: chính điều
nghĩa, không mưu điều lợi, sáng cái đạo không kể cái công). Về
sau vào năm Ất Mùi (1895) ngày 23 tháng Chạp (ngày đưa ông Táo
về Trời) cụ Phan lâm bệnh nặng tạ thế trên núi Giăng trên đất
Mường. Đến ngày 26 thi hài của cụ mang về nước chôn dưới chân
núi Quạt. Sau đó Nguyễn Thân vì muốn nịnh hót với thực dân
Pháp đã khai quật mộ của cụ Phan tại làng Đông Thái đem về
nguyên quán Hà Tĩnh vào tháng 9 năm Giáp Ngọ (1894), đổ dầu
lửa đốt xương thành tro trộïn vào thuốc súng thần công bắn
xuống La- Giang.
Đối với hành động không phải người và ngang hàng với cầm thú
của Nguyễn Thân không ngoài mục đích tìm kiếm vinh hoa. Nhưng
than ôi! sức mạnh của xâm lăng, của chiến xa hay đại pháo chỉ
là sức mạnh cấp thời có tính cách giai đoạn. Và tay sai thực
dân, đế quốc hay quân phiệt cũng chỉ là những kẻ cô đơn trong
lòng dân tộc, và ngay từ căn bản những con người ấy đã làm kẻ
lưu vong trên chính quê hương của họ. Do đó, sức mạnh từ ngoài
không thể mang lại chính danh nên luôn luôn thiếu chính nghĩa,
không được bộc phát từ dân tộc thì làm sao có thể chống lại
sức đề kháng của hội nghị Diên Hồng hay lời thề Lũng Nhai?
Và, để trả lời câu hỏi của kẻ tiểu học ngọai kiều, sở dĩ dân
tộc chúng ta trong qúa khứ có thể đánh thắng mọi kẻ thù xâm
lăng vì chúng ta có một nền văn hóa tập hợp, đa dạng và nền
đạo lý vì người, bởi người. Ông bà ta từ ngày dựng nước đã lấy
nhu thắng cương, lấy đạo thắng cường, lấy nhân bản làm nền
tảng cho dân tộc và nhân, lễ, nghĩa, trí, tín làm hành trang
cho con đường giữ nước và dựng nước. Hơn thế nữa, dân tộc ta
là một dân tộc hiếu hòa ham chuộng tự do, bình đẳng, nhân vị
biết lấy cái đạo của Trời và đạo của Đất dung hợp như một
lưỡng nghi phải có của âm lẫn dương. Điều ấy được thể hiện qua
sự ràng buộc từ cây đa, cái đình hay ngày Tết Nguyên Đán. Ngay
cả tục lệ thượng neo, hạ neo, rước ông Táo, đưa ông Táo về
Trời hay rước ông bà đưa ông bà đi trong ngày đầu năm đã nói
lên cái cốt lõi trong tinh thần bảo vệâ lãnh thổ, được bắt đầu
từ huyền thoại Thánh Gióng nhổ bụi tre thay kiếm đánh đuổi
giặc Ân.
Đó là sự thật quật cường từ đứa bé lên 3 Phù Đổng Thiên Vương
cho đến lão tướng Lý Thường Kiệt tuổi ngoài bảy mươi vẫn liều
mình xông pha trận mạc đánh đuổi ngoại thù. Hành động từ huyền
thọai Thánh Gióng cho đến thực hữu danh tướng họ Lý là lối
hành xử tiêu biểu của người dân Việt khi quốc gia hưng vong
thì thất phu hữu trách, quyết tâm vận động sức mạnh toàn dân
không phân biệt nam, phụ, lão, ấu hay kẻ có học hoặc người
không có học, kẻ cao hay người thấp, kẻ ốm hay người mập, kẻ
đẹp hay người xấu, kẻ ở từ Tây sang Đông và từ Nam sang Bắc.
Tất cả, đều một lòng một dạ gìn giữ mãnh đất của cha ông để
lại.
Văn hóa Việt tộc là ở đó, gói gọn và đùm bọc như chiếc bánh
chưng trong ngày đầu năm. Hương hoa của dân tộc ta cũng thế,
quần xanh áo đỏ trong ngày đầu xuân. Rượu, mứt, dưa hành hay
tiếng pháo reo là những hội tụ làm nên chất Việt, gắn bó giữa
người về với người, hòa nhập cùng với thuần phong mỹ tục, trân
trọng gìn giữ lịch sử vàng son và di sản văn hóa từ ngàn xưa
để lại. Lại nữa, miếng dưa hấu trân trọng thờ cúng trong ngày
đầu năm thể hiện cho lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ,
mặc dầu An Tiêm có bị lưu đày bao năm ngoài hải đảo, nhưng khi
được tha về An Tiêm không còn lòng thù giận và đem món quà dưa
hấu tặng cha. Việc lưu đày và chấp nhận hình phạt từ vua cha
của An Tiêm chỉ là một cực hình có tính cách giai đọan, nhưng
tình máu mủ cha con không thể bị tách rời. Ngược lại, thái độ
tha thứ của vua cha đối với An Tiêm còn thể hiện tấm lòng vị
tha của một người cha đối với người con. Cả hai từ lòng hiếu
thảo đến đức tính vị tha nói lên được cái đạo nghĩa và cái
lòng nhân của con người. Đồng thời biểu tượng “miếng dưa hấu”
còn đánh dấu cho sự biết ơn trong câu ca dao:
“ Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Núi và nước là hai biểu tượng giữ vị trí hùng vĩ và bất tận.
Vì núi cao hùng vĩ và nước trong nguồn chảy mãi không ngừng.
Cái tình và cái tâm đạo của con người ở trong dòng nước ấy và
cái tư duy của dân tộc cũng được sừng sững như ngọn núi Thái
Sơn. Đạo Việt được lớn dậy không kèn không trống, không chuông
không mõ, không có năm cũng chẳng có tháng và nhất định lại
không có ngày, có bắt đầu nhưng không có tận cùng, được thăng
hoa và lớn dậy như vệt sáng từ ánh mặt trời ở Đông sang Tây.
Vệt sáng ấy, không thiếu cũng không thừa, không dài cũng không
ngắn, có lạnh và có ấm, không thiếu khí quản để thở và để được
đâm chồi nở lộc, có lá có hoa, có cây có trái, có sự vận hành
của trái đất từ ngày 30 tháng nầy cho đến mồng một tháng kia,
liên tục và liên tục... Ấy đạo Việt luân lưu như thế, lớn lên
bằng những xúc tác dân tộc, nhào nặn và gạn lọc từ cái dỡ đến
cái hay, từ cái chua đến cái bùi, từ cái đắng đến cái ngọt và
từ A đến Z rồi đi về vô cực.
Cho nên, khi hiểu được cái đạo Việt nghĩa là chúng ta hiểu từ
tâm cho đến trí, cọng với dũng và có cả bi. Cả bốn yếu tố trên
khi quy nạp chúng ta đã tìm được một phần trong góc cạnh văn
hóa Việt. Ngoài ra, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín cũng được xuyên
suốt qua dòng sống của chúng ta, nhờ ở những yếu tố vô cùng
văn hóa ấy nên đạo Việt được còn, được sống và mạnh để chống
trả mọi hình thái phi dân tộc từ ngoài hội nhập vào.
Đêm 30 dĩ nhiên phải “tối như mực”, được đồng nghĩa như một bi
kịch của xã hội và hài kịch trong thế gian. Thế nhưng sáng
mồng 1 dĩ nhiên cũng phải đến và sẽ sáng. Dân tộc ta cũng
giống như mọi sắc dân khác trên thế giới đều phải trải qua
những cái bắt đầu trong thời kỳ lập quốc rồi giữ nước đến dựng
nước. Bắt đầu nào cũng khó. Có độc lập, tự do và vinh quang
nào mà không phải hy sinh đổ máu đâu? Nhưng cái khó nào cũng
phải và chúng ta đã vượt qua, nhờ ở trong tâm thức và tư duy
mỗi con người Việt đều có cái tâm đạo được tôi luyện và lớn
lên trong tinh thần của đạo Việt, thể hiện hiện qua hình ảnh
“buị tre” của Thánh Gióng, được kết tụ thành hàng rào dân tộc,
mà chúng tôi tin tưởng rằng không vũ khí nào có thể xuyên
thủng được.

________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý
kiến, phê bình.
Địa chỉ:
2800 N. Classen BLVD Suite 102
Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại
(405) 525-3881
Fax: (405) 692-8558 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|