Một Quốc Gia Hai Chế Độ

Nguyễn Hữu Hoạt

Dân Quyền Online

 

 

 


Vào năm 2001, một năm sau ngày Tổng thống Bush nhận chức, ông đã tuyên bố rằng: “Hoa kỳ sẽ làm bất cứ những gì có thể làm được để bảo vệ Đài Loan”. Đây là lời tuyên bố “rất lửa” dựa trên Taiwan Relations Act vào năm 1979; được nói ra lần đầu tiên trong lịch sử của vị Tổng thống Hoa Kỳ. Phản ứng lại lời tuyên bố trên, Bộ chính trị Trung quốc họp khẩn đưa ra nhận định cấp thời để đối phó cùng những diễn tiến có thể xảy ra tương lai. Để hỗ trợ cho hành pháp, Quốc hội Trung quốc cũng đã triệu tập một cuộc họp bất thường nhằm mục đích ủng hộ những gì mà hành pháp phản đối. Hiện tượng “lửa” của Tổng thống Bush được đáp lại bằng những lời phản đối mạnh mẽ chưa từng thấy của chính quyền Trung quốc, tưởng như hai quốc gia gián đoạn bang giao. Tuy nhiên, để trấn an cho những lời lẽ trên, ngoại trưởng Colin Powell đã bí mật xác định lại vai trò đối với Trung quốc và Đài Loan. Đây là những bắt đầu cho một giai đoạn tồi tệ trong lãnh vực ngoại giao của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Bush ở nhiệm kỳ thứ nhất, được giới truyền thông đề cập đến nhiều nhất.

Đến nay ở nhiệm kỳ II khi T.T. Bush tái đắc cử vấn đề chính sách giữa Đài Loan và Mỹ (US-Taiwan policy) sẽ đi về đâu trong 4 năm nữa? Phải chăng đây chính là câu hỏi mà hầu như tất cả các người lãnh đạo Trung quốc đều quan tâm một cách trân trọng và đặc biệt. Bởi “thái độ” cũng như “hành động” quân bình (balance) đối lực của Hoa Kỳ với Đài loan và Trung quốc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lãnh vực ngoại giao và thương mại trong thực tế giữa hai quốc gia. Ngược lại, ngay cả những người lãnh đạo Đài Loan cũng đã xét lại thái độ của Nhà trắng trong 4 năm qua và tiên đoán những gì sẽ xảy ra trong 4 năm tới cho họ. Cả hai từ Bắc Kinh đến Đài Loan đều có những tầm nhìn chiến lược trong tham vọng thống nhất (Bắc Kinh) và tuyên bố độc lập (Đài Loan) nếu được bậc đèn xanh từ Nhà trắng.

Đối với Bắc kinh, trong diễn văn của ông Hồ Cẩm Đào đọc tại Macau
đã khẳng định lại vai trò của Hồng Kông, Ma Cau và ngay cả Đài Loan trên căn bản “một quốc gia hai chế độ”. Trong quá khứ khi Anh trao trả Hồng Kông và Bồ Đào Nha trao trả Mau Cau, Bắc kinh đã đưa ra công thức “một quốc gia hai chế độ” nhằm mục đích duy trì guồng máy điều hành tự trị trên phương diện hành chánh và thị trường kinh tế tự do nhưng được thông qua một Uỷ Ban thường trực do chính quyền Trung Ương Trung quốc giám định. Ngoại trừ quyền điều hành các sòng bài tại Macau hoàn toàn độc lập, không có sự can thiệp của Ủy Ban Thường Trực.

Công thức “một quốc gia hai chế độ” được ông Hồ Cẩm Đào và các lãnh tụ Trung quốc cổ võ, cho đó là điều kiện khả thi để Đài Loan có thể tiến đến con đường thống nhất về với Bắc Kinh. Và, công thức trên đã được những người lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn quyết tâm làm áp lực với Hoa Kỳ không ủng hộ bất cứ hành động tuyên bố độc lập nào của Đài Loan. Đổi lại Bắc Kinh sẽ giúp Hoa kỳ theo đuổi các mục tiêu như:
- Chống lại chiến tranh khủng bố.
- Ủng hộ cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Iraq (thời kỳ hậu Saddam)
- Áp lực Bắc Hàn trong vấn đề nguyên tử.
- Thị trường kinh tế.

Nhìn lại 4 điểm đưa ra của Trung Quốc chỉ là điều kiện thời đại (giai đọan) nên chưa đủ để Hoa Kỳ có thể đi ngược US-Taiwan Policy. Trong đó những lý do thầm kín khác, nhất là căn cứ trên lời tuyên bố Chủ tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia cho thấy: Hoa Kỳ không thể cho phép Trung quốc tự tung tự tác trên khu vực Á châu khi quyền lợi hoặc ảnh hưởng của Hoa Kỳ suy kém. Do đó, việc Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ cho “cái xương ống quyễn” Đài Loan khi hữu sự là điều đã và sẽ hành động. Tuy nhiên, về mặt nổi hay trên phương diện ngoại giao Hoa Kỳ lại tán thành chủ chương “một quốc gia hai chế độ” của Bắc Kinh đưa ra. Nhằm mục đích hổ trợï cho cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng Ôn Gia Bảo vào tháng 12, Tổng Thống Bush đã lên tiếng cảnh báo Đài Loan không được tuyên bố độc lập và sẽ chống đối nếu Đài Loan tiến hành điều ấy. Ngoài ra, trong chuyến viếng thăm Bắc Kinh ngoại trưởng Hoa Kỳ Colin Powell cũng đã tuyên bố: ”Đài Loan là một phần không thể tách rời đối với Bắc Kinh. Cho nên, Đài Loan không thể tuyên bố một chính quyền độc lập”.

Ngay sau khi lời tuyên bố của Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Colin Powell đưa ra, chính quyền Đài Loan đã “khởi tố” qua lời của Ngoại trưởng Đài Loan Mark Chen cho rằng đây là những đe dọa trực tiếp đến lòng yêu chuộng tự do và tự chủ cũng như va chạm chủ quyền trực tiếp của 23 triệu dân Đài Loan, và nhân dân Đài Loan sẽ hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền tự do đó. Song song với ngoại trưởng Mark Chen, nhiều vị dân biểu Đài Loan cũng đã lên tiếng chỉ trích Hoa kỳ là kẻ “phản bội” và hứa sẽ tăng ngân sách quốc phòng nhiều hơn nữa để tân trang hệ thống phòng vệ hiện đại, hầu ngăn chận một cuộc tấn công biển người từ Trung quốc.

Lặp lại những gì Ngoại trưởng Colin Powell tuyên bố giữa Đài Loan và Hoa Thịnh Đốn. Ông Adam Erel, phụ tá phát ngôn viên Bộ ngoại giao đã cho biết trước báo giới rằng:”Chính sách Hoa Kỳ đối với Đài Loan vẫn không thay đổi, trước sau như một (we are today where we were yesterday)” Nghĩa là Hoa kỳ công nhận Bắc Kinh là thủ đô chính thức của Trung quốc và các cơ cấu chính quyền dân sự trước đây và hiện nay hợp lệ theo tinh thần de-factor của Liên Hiệp Quốc. Trên căn bản và tinh thần ấy, Tổng thống Đài Loan khi công du Hoa Kỳ chỉ trên danh nghĩa cá nhân chứ không được đón tiếp theo nghi lễ của một lãnh đạo quốc gia.

Đổi lại cũng theo thông cáo chung tháng 8/2001 (August 2001) Đài Loan đã tuyên bố “Đài Loan và Trung Hoa (không phải Trung quốc) là một quốc gia, nhưng có lằn ranh cách biệt. Kể từ khi Tổng thống Trần Thủy Biển tái đắc cử ở nhiệm kỳ hai vào tháng 3/2004. Ông đã vận động quốc hội trao quyền cho ông đưa ra kế hoạch “tu chỉnh hiến pháp” và kế hoạch nầy sẽ được hoàn thành vào năm 2008. Song song với chương trình tu chỉnh hiển pháp, lãnh đạo Đài Loan gồm cả hành pháp lẫn lập pháp bắt đầu công du khắp nơi trên thế giới vận động ủng hộ cho chương trình tu chỉnh trên.

Từ những dấu hiệu ấy, Hoa Thịnh Đốn lo ngại một Đài Loan tách rời sẽ tạo nên cuộc tranh chấp về quân sự giữa Bắc Kinh và Đài Loan, mà trong đó sẽ lôi cuốn cả Hoa Kỳ lẫn những quốc gia Đông Nam Á. Chính vì những lo ngại trên cho nên theo những nhà bình luận chính trị Trung quốc cho rằng Hoa Kỳ có những thay đổi trong chính sách và đã hiểu được vai trò Bắc Kinh đối với Đài Loan. Tuy nhiên, sự “hiểu biết” nầy vẫn chưa hoàn toàn thoát ra ngoài những điểm căn bản đã được thảo luận và đồng ý giữa Bắc Kinh và Nhà trắng (những điểm đã thảo luận không được công bố). Do đó, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc lên tiếng rằng Hoa Thịnh Đốn không chịu đưa ra lập trường rõ ràng và đòi hỏi Bạch cung phải tiếp tục áp lực Đài Loan nhiều hơn nữa để họ phải nghiêm chỉnh thảo luận về việc một quốc gia hai chế độ.

Giả thuyết rằng rồi đây Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập và Trung Quốc liệu có đủ can đảm để tấn công Đài Loan hay không? Nếu có thì vai trò Hoa Kỳ sẽ như thế nào? Mặc dầu Thủ tướng Tân Gia Ba Lee Hsien Loong và ngoại trưởng Úc Alexander Downer tuyên bố họ sẽ không ủng hộ Đài Loan và Hoa Kỳ nếu Hoa Kỳ xử dụng quân đội can thiệp. Trong quá khứ vào năm 1998, Trung Quốc đã có những chuyển động tấn công Đài Loan, đã bị Tổng Thống Clinton ra lịnh cho Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương di chuyển Đệ Thất Hạm Đội vào lãnh thổ Đài Loan và sẵn sàng chống lại Trung Quốc. Gần đây nhất, mặc dầu Hoa Kỳ chống lại quyết định tuyên bố độc lập của Đài Loan. Tuy nhiên, Phó Tổng thống Dick Cheney’s cũng đã tái xác nhận cùng lãnh đạo Trung Quốc rằng:” Hoa Kỳ sẽ không thiết lập một quan hệ ngoại giao nào trên căn bản quốc gia. Nhưng theo luật (by law) Hoa Kỳ sẽ bảo vệ nếu Đài Loan bị tấn công. Và, Tổng thống Bush “sẽ làm bất cứ những gì có thể làm được để bảo vệ Đài Loan”.

Xét về phương diện khả năng tấn công và phòng thủ, trước cuộc điều trần cùng quốc hội, Tổng thống Trần Thủy Biển cho biết hằng năm Trung Quốc đã tăng cường thêm từ 50 đến 70 đầu đạn liên lục địa nhắm vào Đài Loan, nâng tổng số lên là 610. Riêng Trung Quốc còn có những loại hỏa tiễn tầm trung có khả năng bắn ra liên tục mỗi lần 1650 qủa và bắn trong 10 giờ liền. Đổi lại, Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan Lee Jye cho biết Đài Loan sẽ không phải là người mở màng cuộc chiến. Tuy nhiên, Đài Loan sẽ đập tan mọi cuộc tấn công của Trung Quốc nếu có, nhờ bởi hiện nay Đài Loan đã chế được các đầu đạn mang tên Hsiung-feng 2A và Hsiung-feng 2E bắn thẳng vào khắp các thành phố chính của Trung Quốc, và thành phố Thượng Hải sẽ được san bằng trong 7 tiếng đồng hồ bởi hỏa lực từ đất liền và hạm đội. Ngoài ra, Đài Loan đã bỏ ra 19.2 tỷ Mỹ kim trong năm 2004 mua lại của Hoa Kỳ các loại Patriot PAC-3 và 8 tàu ngầm chạy bằng dầu cũng như 12 P-3C Orion submarine loại tìm và tiêu diệt chiến hạm địch (Search and destroy). Đây là ngân sách lớn nhất chi dùng vào việc mua vũ khí của Đài Loan trong thập niên qua. Ngân sách nầy sẽ không dừng lại ở năm 2005 mà sẽ tiếp tục gia tăng theo yêu cầu của hành pháp.

Nhìn lại bước đường thống nhất Đài Loan của Trung Quốc không phải dễ như ăn bánh (piece of cake), khi mà người anh em Đài Loan càng ngày khả năng phòng thủ lẫn tấn công càng mạnh. Thế nhưng, rồi đây phương trình Đài Loan sẽ được giải quyết (có thể không ở thế hệ chúng ta) bằng nhiều hình thức qua các điều kiện khác nhau. Trong đó, vai trò, quyền lợi cũng như ảnh hưởng của Hoa Kỳ phải được đặt trên một góc cạnh bằng nhau. Và những điều kiện nào đó có được thực dụng hay không còn tuỳ thuộc vào sức mạnh quân sự của Đài Loan.

 


________________________________________________________________________
Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ: 2800 N. Classen BLVD Suite 102 Oklahoma City, OK 73106
Điện thoại (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558