|
Khi chúng ta
đang còn sống trên xứ sở quê hương, giữa các trào lưu văn học thế giới
tràn ngập vào tâm hồn lớp trẻ trí thức hết đợt sóng hiện đại này đến
những ý thức mới của văn học và triết học khác, thực sự mấy ai còn
nhắc nhở đến Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Phạm Quỳnh, Á Nam Trần Tuấn Khải,
Tương Phố, Đông Hồ, Phan Huy Ích, Hồ Xuân Hương, Chu Mạnh Trinh, Bà
Huyện Thanh Quan... Đa số đã chạy đuổi theo những trang sách của
Heidegger, Apollinaire, William Saroyan, Henry Miller, Alexis Zorba,
Sartre... chắc chắn ảnh hưởng chỗ đứng của các tiên sinh tiền bối thuở
Thịnh Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hạo, Lý Thượng Ẩn... lại càng bị
đẩy lùi ra "xa lộ" văn học Việt Nam cuối thế kỷ hai mươi.
Trong một
sát-na xúc động tình cờ trong đời sống nơi viễn xứ, tôi chợt khám phá
nguyên ủy lưu vong của loài rong rêu trên giòng thác cuồn cuộn đổ từ
ngọn đỉnh non cao. Chúng tôi cảm thấy khổ đau mỗi khi cố gắng bắt đầu
khép kín những nhung nhớ cố hương. Với sức lực của con ngựa già, không
vượt nổi qua những chặng đồi núi phong ba của nhân thế, để phóng tới
cánh đồng thảo nguyên tương lai. Mùa xuân đến nơi đất khách, nhưng tâm
sự người lưu vong vẫn não nề, cái tâm sự mà TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU đã
cảm nhận từ hơn năm mươi năm trước như những lời tiên tri:
...Nước Non
nặng một lời thề
Nước đi, đi
mãi không về cùng non
Nhớ lời
nguyện Nước cùng Non
Nước đi chưa
lại non còn đứng không
Non cao những
ngóng cùng trông
Suối khô dòng
lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một
nắm hao gầy
Tóc mây một
mái đã đầy tuyết sương
Trời tây bóng
ngả tà dương...
Tản Đà đã gợi
lên sự thực đau lòng đó, nhưng ông vẫn tin rằng trong vận chuyển Ngũ
Hành, chu kỳ sinh diệt là lẽ tất nhiên của Tạo Hóa. Nỗi tư duy thần
diệu nhất, Tản Đà đã biểu hiện cái tính chất "nước đi ra bể lại mưa về
nguồn" kết hợp được triết học Đông Phương và khoa học vật lý Tây
Phương: Nước đi ra biển, nhờ nắng bốc thành hơi bay về núi gặp khí
lạnh gió thổi tan thành mưa. Cứ thế, từ thế kỷ này qua thế kỷ khác
nhịp nhàng vi diệu trong sinh hóa của vũ trụ:
Non xanh tuổi
vẫn chưa già
Non thời nhớ
nước, nước mà quên non
Dù cho sông cạn
đá mòn
Còn non còn nước
hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết
hay chưa
Non đi ra biển
lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ
còn luôn
Bảo cho non nước
có buồn làm chi
Nước kia dù hãy
còn đi
Ngàn dâu xanh
tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao
ước kết đôi
Non non nước
nước chưa nguôi lời thề...
(Thề Non Nước)
Đề cập đến công
trình văn học đóng góp vào sự nghiệp văn hóa dân tộc Việt Nam của Tản
Đà quả thật không nhỏ. Mặc dù Tản Đà xuất hiện giữa thời đại giao mùa
của trào lưu văn học cũ và mới. Thời kỳ mà sở học Hán và Nôm đang bị
đẩy lùi vào hậu trường sân khấu trong mọi sinh hoạt văn chương nghệ
thuật. Hình ảnh của những ông đồ già nuối tiếc một thời vang bóng hiện
lên như một bức tranh cô đơn buồn bã tội nghiệp:
Mỗi năm hoa đào
nở
Lại thấy ông đồ
già
Bày mực tàu giấy
đỏ
Bên phố đông
người qua
Bao nhiêu người
thuê viết
Tấm tắc ngợi
khen tài
Hoa tay thảo
những nét
Như phượng múa
rồng bay
Nhưng mỗi năm
mỗi vắng
Người thuê viết
nay đâu
Giấy đỏ không
buồn thắm
Mực đọng trong
nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi
đấy
Qua đường không
ai hay
Lá vàng rơi trên
giấy
Ngoài trời mưa
bụi bay
Năm nay đào lại
nở
Không thấy ông
đồ xưa
Những người muôn
năm cũ
Hồn ở đâu bây
giờ
(Ông Đồ - Vũ
Đình Liên)
Tuy nhiên, sự
hình thành của giòng văn học Hán - Nôm khi khoa cử ở thời kỳ phục
hưng, sự thực không ai có thể phủ nhận những công trình sáng tạo của
một số nhà văn nhà thơ Việt Nam với những tác phẩm lừng lẫy cho mãi
đến bây giờ chưa chắc có được những tác phẩm nào xứng đáng để thay
thế. Như "Đoạn Trường Tân Thanh" của thi hào Nguyễn Du, "Lục Vân Tiên"
của Nguyễn Đình Chiểu, "Chinh Phụ Ngâm" của Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần
Côn. Những thi tài vượt bật như Hồ Xuân Hương, Chu Mạnh Trinh, Bà
Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trái, Nguyễn Khuyến, Cao Bá
Quát, Tú Xương...
Đến khoảng thời
gian đầu thế kỷ 20 từ khoảng năm 1913 đến 1917, nền văn học Việt Nam
đã bắt đầu ảnh hưởng bởi giòng văn học Tây Phương, từ đó như vết dầu
loang tỏa rộng ra khắp nước và tạo thành những trào lưu văn học mạnh
mẽ đến năm 1930, lừng lẫy tạo những thành tích đáng kể từ năm 1930 -
1945. Tiêu biểu những lực lượng nòng cốt của trào lưu văn học mới có
Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên. Xuân Diệu,
Huy Cận... và nhóm Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam được
xem là những cây bút tiền phong tiến công vào thành trì, phá vỡ những
hủ hóa đầy phong kiến của xã hội cũ. Khi con đê đã phá sập, giòng nước
tuôn trào, các tư tưởng tây phương xâm nhập vào lớp trẻ trí thức Việt
Nam như Lamartine, La Fontaine, André Maurois, Mallarmé... Có lẽ ngán
ngẩm cho thế sự đổi thay đến nỗi Thi sĩ Trần Tế Xương phải than thở
một cách chua cay:
Nào có ra gì cái
chữ Nho
Ông Nghè, ông
Cống cũng nằm co
Chi bằng đi
học làm ông Phán
Tối rượu sâm
banh, sáng sữa bò...
Tản Đà cũng
cảm thấy chán nản nhưng không bi quan với khả năng cầu tiến nên ông
cũng cố nghe theo lời khuyên đầy cay đắng của Trần Tế Xương theo học
sách Âu Tây qua người Hoa dịch, gọi là Tân Thư, để mong kiếm thêm chút
vốn liếng Tây học, kiếm gạo nuôi vợ con:
Mười mấy năm
trời ngọn bút lông
Thảnh thơi
chẳng bợn chút hơi đồng
Bây giờ anh
đổi lông ra sắt
Cách kiếm ăn
đời có nhọn không
...Hôm qua
chưa có tiền nhà
Suốt đêm thơ
nghĩ chẳng ra câu nào
Đi ra rồi lại
đi vào
Quẩn quanh
chỉ tốn thuốc lào vì thơ!
Mặc dù cuộc
sống cơ hàn gánh nặng gia đình, vợ con, nhưng Tản Đà luôn luôn giữ
tiết tháo một nhà thơ, nhà báo có tư cách, luôn đề cao tinh thần yêu
nước. "Trong thời gian vất vả nhất về tài chính là thời gian hơn tám
năm ròng rã, Tản Đà xuôi ngược Hà Nội, Nam Định, vào Vinh rồi trở về
Hàng Bông để vận động An Nam Tạp Chí một cách tích cực, nhưng chỉ phát
hành cầm chừng tạp chí này. Cuối cùng An Nam Tạp Chí bị đóng cửa vĩnh
viễn, Tản Đà thác lời Hàn Thuyên: Than ôi! An Nam tạp chí mà đến nỗi
phải đình bản, thời còn gì là An Nam!" (Văn Xã, Tản Đà Nguyễn Khắc
Hiếu). Từ đó Tản Đà như người thất chí mượn rượu tiêu sầu.
Say sưa nghĩ
cũng hư đời
Hư thời hư
vậy, say thời cứ say
Đất say, đất
cũng lăn quay
Trời say, mặt
cũng đỏ gay, ai cười?
...Giấc mộng
mười năm đã tỉnh rồi
Tỉnh rồi lại
muốn mộng mà chơi
Nghĩ đời lắm
nỗi không bằng mộng
Tiếc mộng bao
nhiêu lại chán đời
Những lúc
canh gà ba cốc rượu
Vài khi cánh
điệp bốn phương trời
Tìm đâu cho
thấy người trong mộng
Mộng cũ mê
đường biết hỏi ai?
(Nhớ Mộng)
Đôi khi người
đời không biết Tản Đà say rượu, say mộng hay là say thơ? Chính ông
cũng không phân biệt cảnh đời, cảnh mộng và cảnh tiên. Mộng và thực
lẫn lộn trong đời sống đầy phiền não vì phải tranh đấu miếng cơm manh
áo nuôi cái thân xác tạm bợ nơi cõi trần thế. Ông cảm thấy lạc lõng
chơ vơ giữa cuộc đời đầy buồn bã thê lương:
Đêm thu buồn
lắm chị Hằng ơi
Trần thế em
nay chán nửa rồi
Cung quế có
ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin
chị nhắc lên chơi
Có bầu có bạn
can chi tủi
Cùng gió cùng
trăng thế mới vui
Rồi cứ mỗi
năm rằm tháng tám
Tự nhau trông
xuống thế gian cười...
(Muốn Làm
Thằng Cuội)
Không biết
cảnh Thiên Thai có thực như câu chuyện Lưu Nguyễn ngày xưa? Hay chỉ là
dấu vết giác ngộ quay về của tâm thức sĩ phu? Để nhìn thấy những
nguyên thủy không còn nữa, mặc dù lòng thủy chung vẫn trọn đầy trong
trí tưởng người đi. Có thiên đàng nào đẹp bằng quê hương. Tâm trạng
ray rứt nhớ nhung của Lưu Nguyễn là nỗi niềm tâm sự chung của Tản Đà,
tâm sự qua những tư duy ẩn mật, sâu sắc trong mỗi người lưu vong, mơ
ước ngày trở lại quê nhà thực sự an bình trong ý nghĩa chân thành
thường trực:
Lá đào rơi
rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn,
oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên
cảnh
Một bước trần
ai
Ước cũ duyên
thừa có thế thôi
Đá mòn, rêu
nhạt
Nước chảy hoa
trôi
Cái hạc bay
lên vút tận trời
Trời đất từ
nay xa cách mãi
Cửa đóng
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ
thẩn bóng trăng chơi
(Tống Biệt)
Tản Đà mang
nỗi sầu đi tiếu ngạo khắp cùng đất nước và ngạo nghễ trong cái thú vui
bất tận thơ rượu của ông, tính tình khẳng khái ngay thật, đả phá mọi
thành kiến hẹp hòi phe phái trong sinh hoạt giao mùa của trào lưu văn
học mới - cũ. Ông cố gắng sống thoải mái cho chính sở thích tự nguyện
của ông nên nẩy sinh nhiều giai thoại về Tản Đà cũng khá lý thú như
thi sĩ Bùi Giáng:
Trời sinh ra
bác Tản Đà
Quê hương
thời có, cửa nhà thời không
Nửa đời nam,
bắc, tây, đông
Bạn bè sum
họp, vợ chồng biệt ly
Túi thơ đeo
khắp ba kỳ
Lạ chi rừng
biển, thiếu gì gió trăng...
Có lẽ Tản Đà
là nhà văn nhà thơ đầu tiên có sáng kiến vắt óc để mưu cầu phương kế
sinh nhai, cho một mình ông thôi đã vất vả lắm, huống hồ phải kiếm gạo
nuôi vợ con lại càng vất vả trăm chiều.
...Cuộc trần
thế kiếm ăn chẳng dễ
Rẻ rúng thay
là nghệ làm văn!
...Văn chương
hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được
đồng lãi thực rất khó
...Ra văn mà
chẳng ra tiền
Cái nghiệp
văn chương nghĩ thật phiền
Văn ế bao giờ
cho bán hết
Phen này có
nhẽ gánh lên tiên!
Hơn năm mươi
năm sau văn chương chữ nghĩa ở đất khách còn não nề thê thảm hơn. Lớp
đàn em "nặng nợ tơ tằm, cái nghiệp văn chương nó đuổi đeo", ở hải
ngoại "vắt óc moi tim" cho ra những giòng văn, những vần thơ, nhưng
hàng sách càng ngày càng ế ẩm và đang trên đà báo động lâm nguy. Chỉ
còn lác đác ở thế hệ gọi là "nghiệp dĩ" liên hệ đến những yêu thích
thơ văn tiền chiến và hậu chiến miền Nam từ trong nước, là họa may còn
nhắc nhở đến những tên tuổi Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Phan
Khôi, Tự Lực Văn Đoàn với Nhất Linh, Thạch Lam... và thỉnh thoảng
những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn... như một
vọng âm hiếm hoi trong đời sống chạy đuổi theo bánh xe quay của guồng
máy thực dụng.
Cái tâm sự
đau buồn của Tản Đà khi ông đã chọn gởi gấm vào lối ngõ Đường Thi như
những lời than thở cuối cùng:
Hạc vàng ai
cỡi đi đâu
Mà nay Hoàng
Hạc riêng lầu còn trơ!
Hạc vàng đi
mất từ xưa
Nghìn năm mây
trắng bây giờ còn bay
Hán Dương
sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ
xanh đầy cỏ non
Quê hương
khuất bóng hoàng hôn
Trên sông
khói sóng cho buồn lòng ai?
(Hoàng Hạc
Lâu - Thôi Hộ - Tản Đà dịch)
Không những
riêng Tản Đà mà cả chúng ta cũng đang mang tâm sự não nề buồn thảm
không kém như ông ngày xưa. Có lẽ Tản Đà chỉ bước đến cửa Khổng - Lão,
mà chưa bước vào Thiền Môn để quán triệt cái đạo lý vi diệu Sắc Sắc
Không Không. Tản Đà sẽ thanh thản biết chừng nào, khi đến rong chơi
cõi trần gian và khi cuộc vui đã mãn, thanh thản ra đi như một đám mây
trắng bay qua giữa bầu trời Như Huyễn.
Tản Đà tên
thật Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm Mậu Tí 1888 tại làng Khê Thượng, huyện
Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Quê hương ông là dải bình nguyên sông Đà, chạy
dài tới chân núi Tản Viên, nên ông lấy tên núi Tản ghép với sông Đà
làm bút hiệu.
Phụ thân Tản
Đà là Nguyễn Danh Kế, đỗ cử nhân, làm quan lên tới chức án sát. Mẫu
thân ông, Lưu Thị Hiền (có sách ghi là Khiêm), cũng là người có học,
có tài ứng đối, làm thơ.
Xuất thân con
nhà cử nghiệp, Tản Đà sau khi học vỡ lòng chữ Nho ở Nam Định, sống và
học với người anh cả là Nguyễn Tái Tích. Ông anh lúc ấy đã đậu phó
bảng, làm đốc học ở Sơn Tây, Vĩnh Yên rồi đổi ra Hà Nội. Riêng phần
Tản Đà học hành lận đận, chỉ đỗ kỳ hạch ấm sinh dành cho con quan. ông
trượt luôn hai khóa Kỷ Dậu (1909) và Nhâm Tí (1912) chán nản bỏ luôn
khóa Ất Mão, chuyển sang học chữ quốc ngữ và bắt đầu viết Giấc Mộng
Con.
Năm 1913 Tản
Đà được Trịnh Xuân Nham, giáo thụ trường Hậu Bổ đề bạt cho Nguyễn Văn
Vĩnh, ông có các bài tiểu luận đăng khá đều trên Đông Dương Tạp Chí và
bắt đầu được chú ý.
Từ cuối năm
1925, ông ra An Nam Tạp Chí. Tờ báo đóng cửa ba lần, tục bản hai lần,
tới 1933 mới đóng cửa luôn. Trong khoảng thời gian An Nam Tạp Chí đình
bản, thi sĩ Tản Đà vào Sài Gòn viết cho Đông Pháp Thời Báo của Diệp
Văn Kỳ (1927) nhưng nửa chừng bỏ trở ra Bắc tục bản An Nam Tạp Chí
(1927).
Từ cuối năm
1932, ông đóng cửa vĩnh viễn tờ An Nam Tạp Chí (Nguyễn Văn Vĩnh cũng
ra tờ An Nam Tạp Chí khác trong cùng năm này). Vốn đã sống trong cảnh
túng thiếu, Tản Đà càng lúc càng quẫn bách hơn. Có lúc ông về Bạch Mai
(gần Hà Nội) mở lớp dạy chữ Nho. Có lúc ông quay về Hà Đông, đăng
quảng cáo trên vài tờ báo: "Nhận làm thuê các thứ văn vui, buồn,
thường dùng trong xã hội - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu". Có lúc ông phải
mở cả phòng đoán số Hà Lạc để kiếm sống (1938).
Tản Đà mất vì bệnh gan, ngày 17.6.1939 tại nhà riêng, số 71 ngã tư Sở,
Hà Nội, để lại vợ và tám con. Di thể tiên sinh được an táng tại nghĩa
trang Quảng Thiện, Hà Nội.
|