|
Champa (còn
gọi là hoa sứ) là tên một loài hoa màu trắng hồng nhạt, hay trắng
vàng nhạt, có hương thơm ngào ngạt có thể tìm thấy tại khắp nơi
trên duyên hải miền Trung. Không biết người Chàm đã chọn loài hoa
sứ này đặt tên cho quê xứ mình từ hồi nào, nhưng chữ Champa đã
được tìm thấy trên tấm bia ký có từ thế kỷ thứ 6 tại thánh địa Mỹ
Sơn, viết bằng tiếng Phạn (Sanscrit).

Dân tộc Chàm
có khoảng 100.000 dân, xếp thứ 17 trong 54 sắc tộc của Việt Nam;
sống tập trung đông nhất ở 3 tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận và An
Giang. Ngoài ra, người Chàm còn cư trú rải rác ở các tỉnh từ Nam
Trung Bộ đến Đông và Tây Nam bộ.
Qua các di
tích và di sản văn hóa còn lại, người ta có thể nhận thấy những
nét văn hoá nổi bật của người Chàm trong đó có sự pha trộn giữa
tính bản địa và sắc thái Ấn giáo. Nét văn hóa Ấn Độ tỏ ra nổi bật
và lấn át hơn. Nét đặc sắc của văn hoá Chàm thể hiện từ tiếng nói,
chữ viết, từ nghệ thuật và kỹ thuật tạo hình của các ngôi tháp
bằng đất, các pho tượng bằng đá, đến các sản phẩm thêu, dệt hoa
văn, thổ cẩm hoặc đồ gốm sứ và các vật dụng phục vụ cho cuộc sống
hàng ngày hay trong các nghi lễ cúng tế.
Người Chàm
luôn tự hào về những ngôi tháp Chàm cổ kính xây dựng bằng đất nung
độc đáo. Hình ảnh vũ nữ Chàm cổ xưa đã được khắc vào các đền tháp,
trong đó bức phù điêu Vũ nữ Trà Kiệu là một trong những tuyệt tác.
Là một bộ phận của nền văn hoá dân tộc, kiến trúc dân gian của
người Chàm cũng có một lịch sử và truyền thống lâu đời. Bàn tay và
khối óc sáng tạo của dân tộc Chàm làm sáng tỏ sự phong phú, đa
dạng của Văn hóa Việt Nam, hé mở cho chúng ta thấy sự giao lưu
giữa các nền văn hoá trong quá trình phát triển của các tộc người.
Dệt thổ cẩm là
nghề truyền thống của người Chàm. Những tấm khăn, cái áo làm ra
được coi là thước đo của sự tài hoa, tháo vát của các cô gái Chàm.
Nghề dệt thổ cẩm đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo. Để có một tấm chăn,
các cô gái Chàm phải cần mẫn ngồi bên khung cửi từ sáng đến tối
hàng tháng trời với sự nhịp nhàng, chuẩn xác trong từng thao tác.
Các sản phẩm dệt của người Chàm khá phong phú, đáp ứng cho nhu cầu
trang phục, trang trí, lễ tiết rất đa dạng của người Chàm.
Một nghề
truyền thống khác của người Chàm là kỹ nghệ chế tác đồ gốm. Tại
Làng Chàm Bầu Trúc có nghề làm gốm từ lâu đời, hầu như gia đình
nào cũng làm, phần lớn do phụ nữ đảm nhiệm. Từ chiếc lu đựng nước,
chiếc nồi đất, bộ khuôn đổ bánh xèo đến siêu sắc thuốc, chiếc cà
om đều rất dụng công với những hoa văn độc đáo. Sản phẩm gốm Chàm
còn được trao đổi rộng rãi với nhiều vùng và nhiều tộc người khác.
Một trong
những nét văn hoá đặc trưng nhất của người Chàm phải kể đến là
những điệu múa Chàm phong phú, độc đáo. Hầu như mỗi làng Chàm đều
có một đội múa riêng. Những điệu múa cổ xưa nhất thường được trình
diễn trong các lễ hội. Các nghệ nhân Chàm đã sáng tác thêm những
điệu múa đặc sắc như múa chàm rông, múa đoa pụ (đội
bình nước trên đầu). Múa quạt là điệu múa phổ thông của người Chàm.
Khi múa, các vũ nữ dùng quạt làm đạo cụ để biểu diễn những loại
múa khác nhau. Múa bóng mang tính tôn giáo và cũng rất phổ biến
của người Chàm. Trong những nét đặc trưng của múa Chàm là múa ổn
định theo nhạc nhưng không đơn điệu, nhàm chán trong các chi tiết
vũ điệu, cuốn hút người xem, người nghe để tạo nên sự “bùng nổ mỹ
cảm” khởi phát từ vẻ đẹp huyền diệu và đầy ấn tượng của các vũ nữ.
Dàn nhạc đệm cho múa thương gồm hai trống ba-ra-nưng và một
kèn sa-ra-nai.
Một số
nghi lễ trong các Tháp Chàm
Hàng năm có
rất nhiều lễ hội được tổ chức trên các tháp Chàm Ninh Thuận. Một
số lễ hội tiêu biểu có thể kể ra:
- Lễ Chal
cầu (lễ cả nước): Tổ chức vào đầu tháng giêng theo lịch Chàm,
cũng là đầu năm, người Chàm tập trung lên tháp để cùng các thầy
cúng mừng năm mới.
- Lễ mở cửa (lễ
cầu đảo): Tổ chức vào tháng 4 Chàm lịch, thực tế là lễ cầu mưa bởi
vào tháng 4, tháng 5 âm lịch (lịch ta) lúc này chưa có mưa.
- Lễ Katê:
Theo phong tục cổ truyền hàng năm đến ngày 1/7 Chàm lịch, tức
khoảng tháng 10 theo tây lịch. Đây được coi như ngày tết và là
ngày lễ lớn nhất của người Chàm. Vào dịp này người Chàm ở các vùng
lân cận Phan Rang tập trung đến tháp Pôklong Garai (hoặc tháp
Pôrômê) làm lễ mừng Katê và cúng các vị thánh thần cùng vua
Pôklong Garai (hoặc vua Pôrômê).
- Lễ Cha
Bun: Tổ chức vào tháng 10 Chàm lịch; theo quan niệm của người
Chàm, nếu như lễ Katê là lễ tưởng niệm đấng cha thì lễ
Cha Bun là lễ tưởng niệm đấng mẹ. Tuy nhiên không phải là lễ
lớn của cả dân tộc nên nghi lễ tiến hành ở tháp đơn giản hơn và
chủ yếu do các thầy cúng thầy cả coi về đạo giáo tiến hành.
V.H
|