» Vui xuân quốc nội
Bài Học về Cuộc Tranh Chấp

Giữa Phe Thân Pháp và Thân Trung Hoa Dưới Triều Nguyễn

Lịch sử là chính trị của ngày qua,
và chính trị là lịch sử đang xảy ra.
Chân ngôn

1.
Mùa xuân 1789, khi lực lượng Tây Sơn vinh quang chiến thắng quân xâm lược nhà Thanh, thì lực lượng Nguyễn Ánh chỉ là đám tàn quân trơ trọi, phải bôn ba ở vùng biên giới Miên Việt để lẫn tránh  những cuộc hành quân của Tây Sơn. Thế mà chỉ hơn một con giáp sau, các danh tướng nhà Tây Sơn như Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhâm, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đô Đốc Lộc, Đô Đốc Tuyết, cùng với những người đã làm nên đại thắng quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu, đã phải thúc thủ trước lực lượng quân sự lớn mạnh nhanh chóng của Nguyễn Ánh.

Năm 1802 Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, bỏ quốc hiệu Đại Việt và đặt quốc hiệu mới là Việt Nam,  chọn Phú Xuân làm kinh đô.

Gần 60 năm sau đó, quân Pháp bắn phát súng đầu tiên vào Đà Nẳng, mở màn cho trận chiến xâm lược mới.  Hậu duệ của lực lượng quân sự tinh nhuệ ngày nào diệt được Tây Sơn bây giờ phải phải thúc thủ trước những đợt tấn công của quân Pháp, và vua Tự Đức phải ký hiệp ước dâng nước Việt Nam cho ngoại bang.

Điều gì đã làm cho lực lượng quân sự với kỷ năng quân sự của Tây Phương, đã từng chiến thắng nhà Tây Sơn, bị xuống cấp nhanh như thế ?

 

2.
Để đối phó với lực lượng Tây Sơn bách chiến bách thắng, Nguyễn Ánh một mặt thâu góm tàn quân, xây dựng lực lượng quân sự mới, một mặt vận động quốc tế yểm trợ cho công cuộc khai phục ngai vàng. Hai lực lượng ngoại quốc quan trọng trong vận động quốc tế của Nguyễn Ánh là lực lượng của người Tây Phương và lực lượng người Trung Hoa đang định cư tại Đại Việt, thường đưọc gọi là người Minh Hương.

Người Tây Phương có ảnh hưởng lớn đối với  Nguyễn Ánh là Giám Mục Bá Đa Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Đa Lộc khi bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Để vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho Giám Mục Bá Ða Lộc. Đồng thời Nguyễn Ánh giao cho Giám Mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn.

Sau khi nhận được ủy nhiệm của Nguyễn Ánh, giám mục Bá Đa Lộc trở về Pháp để vận động viện trợ cho Nguyễn Ánh. Bá Đa Lộc đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 với chính phủ Pháp, dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà nẳng để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại vì nội tình của chính phủ Pháp rối loạn do các cuộc khủng hoảng xảy ra trong thời kỳ tiền cách mạng 1789.  Sau đó Giám Mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho Nguyễn Ánh. Trong những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh, có người sau nầy được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi.  Đứng về phương diện chính trị mà nhận xét, Gia Long là vị vua Á Châu đầu tiên biết xử dụng nhân tài người Âu trong triều đình, và đi trước Lý Quang Diệu của Singapore gần 200 năm.

Chúng ta không có nhiều sử liệu để nghiên cứu ảnh hưởng của Pháp đối với các nhân vật trong triều đình Gia Long, nhưng chúng ta có thể dùng phương pháp suy diễn để nhận định rằng kỷ nghệ quốc phòng tây phương đã giúp lực lượng quân sự của Nguyễn Ánh lớn nhanh và mạnh, và những võ quan đã từng vào sinh ra tử với Nguyễn Ánh là những ngưòi hiểu rõ giá trị kỹ nghệ quốc phòng của ngưòi tây phương và có nhiều cảm tình với họ.  

Những người chịu ảnh hưởng Tây Phương trong triều đình Gia Long, quan trọng nhất là Hoàng tử Cảnh và Tả Quân Lê Văn Duyệt.  Đó là những người được trực tiếp nhận lãnh vũ khi và quân dụng của tây phương, và áp dụng vũ khí mới cũng như chiến thuật mới vào chiến trường.

Hoàng tử Cảnh là một trưòng hợp vô cùng đặc biệt.  Ông được vua cha Gia Long cho theo Giám Mục Bá Đa Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu nầy, hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ tây phương.  Chắc chắn ông phải thông thạo tiếng latin và Pháp ngữ vì ông đã đưọc rữa tội và sống với giám mục Bá Đa Lộc.

Có lẽ hoàng tử Cảnh là vị hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo tây học ở cuối thế kỷ thứ 18, và đầu thế kỷ thứ 19.  Nói thế để xác định rằng sở học tây phương của hoàng tử Cảnh đi trước cả Nguyễn Trường Tộ mấy chục năm. Và nếu hoàng tử Cảnh không bị mất sớm, có lẽ cuộc cách mạng kỷ nghệ tại Việt Nam đã có thể đựơc triển khai ngay thời kỳ hậu Gia Long chứ không phải  đợi đến thời kỳ Nguyễn Trường Tộ Việt Nam mới có cơ hội ... nhỡ tàu cách mạng kỹ nghệ.

Cùng lúc với những ngưòi Pháp đến Đại Việt giúp Nguyễn Ánh, một số ngưòi Minh Hương đã gia nhập lực lượng của Nguyễn Ánh để chống với Tây Sơn. Ngưòi Minh Hương là những ngưòi Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những ngưòi Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Do đó, những ngưòi Minh Hương nầy trở thành lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều đình Gia Long.

Đứng đầu lực lượng nầy là “Gia Định tam hùng” gồm có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, và Ngô Nhân Tịnh. Cả ba ông đều gốc người Minh Hương và là học trò xuất sắc của Võ trưòng Toản, một bậc thâm nho cũng gốc người Minh Hương. Cả ba người đều tham gia hoạt động phò giúp Nguyễn Ánh từ năm 1788.  Do có tài văn học học nên những ngưòi nầy là những nhân vật nòng cốt xây dựng cơ cấu chính trị và hệ thống hành chánh cho Gia Long. Và chính họ là những người thiết đặt nền móng cho quan hệ ngoại giao với nhà Thanh. Trước khi nhà Tây Sơn bị tiêu diệt, Nguyễn Ánh đã cho Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức đi sứ sang nhà Thanh xin thần phục và tài hùng biện của hai nhân vật trong Gia Định tam hùng đã thuyết phục đưọc vua quan nhà Thanh.  Đến khi Nguyễn Quang Toản cho ngưòi qua Trung Hoa cầu cứu thì đã trể.  Nhờ tài ngoại giao của Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức mà Gia Long ngăn chặn kịp thời đưọc sự can thiệp của nhà Thanh vào nội tình Đại Việt.

Khi Gia Long lên ngôi, triều đình có 6 bộ và 3 người Minh hương giữ 4 bộ. Trịnh Hoài Đức làm đến chức thượng thư bộ lại, tương đưong với thủ tướng, kiêm bộ hình, tương đương với bộ tư pháp và tối cao pháp viện, và phó tổng tài Quốc Sử Quán; Lê Quang Định được thăng Binh Bộ thượng thư, tương đương với bộ trưởng quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư, tương đương với bộ xây dựng. Cả ba ông đều đóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa. Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh hoài Đức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Cảnh và hoàng tữ Đảm.

Thời gian Trịnh Hoài Đức đưọc cử dạy cho Hoàng Tử Cảnh, hoàng tử Cảnh đã 14 tuổi vừa mới đưọc Nguyễn Vương phong làm Đông Cung Thái Tử. Trịnh Hoài Đức làm phụ đạo cho hoàng tử Cảnh quá trể.  Như đã nói trên, từ 4 tuổi  hoàng tử Cảnh đã đưọc Bá Đa Lộc nuôi dưỡng. Ông đã thấm nhuần tư tưởng, văn hoá và lối sống tây phương.  Đồng thời ông đã đưọc giám mục Bá Đa Lộc rửa tội nên cũng mất đi tín ngưỡng truyền thống.  Hơn nữa, ở tuổi thiếu niên, ông hành xử như một thiếu niên bị Âu hoá, cho nên khi phải tiếp xúc với các ông đồ nho, hoàng tử Cảnh không khỏi thiếu lễ nghi đông phương đối với người lớn tuổi.  Và vì thế, Trịnh Hoài Đức  và các quan trong triều đình không mấy thiện cảm với  hoàng tử Cảnh.

Trường hợp hoàng tử Đảm khác hẳn.  Ông được giao cho Trịnh Hoài Đức khi còn ấu nhi.  Vì thế ông được uốn nắn trong khung khổ đạo lý đông phương.  Ông coi Trịnh Hoài Đức như là vị thầy, và ông được các quan trong triều đình thương mến.

Khi hoàng tử Cảnh qua đời lúc 22 tuổi vì bệnh đậu mùa, vấn đề ai sẽ kế vị Gia Long trở thành một đè tài vô cùng quan trọng trong triều đình. Theo truyền thống đông phương thì khi hoàng tử Cảnh qua đời thì con trưởng của hoàng tử Cảnh sẽ thay cha nối ngôi. Nhưng các quan trong triều ủng hộ hoàng tử Đảm muốn Gia Long trất dòng trưởng và lập dòng thứ là hoàng tử Đảm. Hai xu hướng thân tây phương và thân Trung hoa trong triều Gia Long đã xung đột gay gắt về vấn đề ai sẽ là ngưòi  kế vị hoàng tử Cảnh.

Lê Văn Duyệt là ngưòi quyết liệt chống lại việc bỏ trưởng lập thứ, và trở nên một cái gai cho Minh Mạng sau nầy. Đối với những ngưòi thân tây phương, cái chết của hoàng tử Cảnh là một nghi vấn. Có giáo sĩ nghi rằng hoàng tử Cảnh bị đầu độc vì ông tin rằng  rằng những ngưòi ở tuổi thành niên khó mà bị bệnh đậu mùa, và nếu hoàng tử bị bệnh đậu mùa cũng khó chết.  Nếu hoàng tử Cảnh bị đầu độc thì phe phái hưởng lợi nhất không ai hơn là cánh thân Trung hoa với con bài hoàng tử Đảm.

Trịnh Hoài Đức là người chủ trương phế dòng trưởng lập dòng thứ và đã thuyết phục được Gia Long chọn hoàng tử Đảm làm người kế vị.  Hoàng tử Đảm lên ngôi vua lấy hiệu là Minh Mạng.  Sau khi Minh Mạng lên ngôi, dưới ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, và Ngô Nhân Tịnh, Việt nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.

Sau khi lên ngôi, để giữ vững ngai vàng, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và ngưòi con trưởng của hoàng tử Cảnh, và giáng ngưòi con thứ làm thưòng dân. Các tướng lãnh thân tây phương như Lê Văn Duyệt, đều bị cô lập, giáng chức hay ép tử. 

Về phương diện hành chính ông bãi bỏ chức vụ tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành, là hai đơn vị hành chánh có thế lực ngang ngữa với triều đình.  Trước đó, Gia Long thưòng bổ nhiệm các võ quan nắm giữ hai chức vụ nầy. (như Kinh Môn Quận Công Nguyễn Văn Nhơn, đức tả quân Lê Văn Duyệt, tiền quân Nguyễn văn Thành -đã bị Gia Long xử tử trưóc đó-, Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, Kiến Xương Quận Công Nguyễn Huỳnh ÐĐức, Trung Quân Lê Chất v.v. ) Từ đó, Minh Mạng xây dựng hệ thống trung ương tập quyền lớn nhất lịch sử nước ta.

Về phương diện ngoại giao, Minh Mạng cho giảm dần quan hệ với tây phương, gây khó khăn cho những nguòi ngoại quốc sang sinh sống ở nưóc ta. Những ngườì Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước.

Khi nhận định nền chính trị nhà Nguyễn dưới lăng kính của cuộc xung đột của hai xu hướng thân tây phương và Trung quốc người đọc sử mới hiểu được lý do sâu xa tại sao Minh Mạng quay mặt lại với những nguòi Âu đã từng giúp Gia Long phục quốc, trở nên   gay gắt và thù hận các giáo sĩ và những người theo đạo Thiên Chúa giáo. Với những người Minh Hương thân Trung hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đưòng lối của Gia Long.

Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh mạng và các vua kế vị (Thiệu Trị (1841-1847), và Tự Đức (1848-1883)) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.

Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng.

Đây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu. Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở ở Trấn Tây Thành (Nam Vang). Và Trương Minh Giảng cùng các quan lại ngưòi Việt đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.

Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Xu hướng thân Trung Hoa trong triều đình đã không ngần ngại bác bỏ bản điều trần canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trưòng Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ tây phương. Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chuá trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du kháp thế giới, đăc biệt là nước Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam để mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều bản điều trần để cải cách và canh tân đất nước dâng lên triều đình Tự Đức. Nhưng trìều đình Tự Đức với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam lại mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay mặt trưóc những yêu cầu canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh nha phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng Hong Kong năm 1842. Và với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam thời bấy giờ không thấy đuợc những phong trào chính trị mới đang ra đời và làm thay đổi vận mạng của Trung Hoa. Những tư tưởng dân chủ và nhân quyền của Lư thoa, Mạnh Đức Tư Cưu đã ảnh hưởng mạnh mẽ giới sĩ phu Trung Quốc.  Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng Hòa.

Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn mơ ngủ. Tiếng súng của hải quân Pháp bắn vào Đà Nẳng năm 1856 vẫn không làm cho triều đình Tự Đức tỉnh giấc mộng Thanh Nho. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang dãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho người đi sang Trung Hoa cầu viện.  Vì nhà Thanh quá suy yếu không giúp được gì nên nhà Nguyễn đành phải dựa vào lực lượng thổ phỉ dư đảng Thái Bình Thiên Quốc là giặc Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc để tiếp tay chống với giặc Pháp.

Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nổi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ. Ý thức hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nổi không thấy được một thế giới mới đang ra đời với cuộc cách mạng kỷ nghệ đang đẩy xã hội tây phương lên đỉnh cao của lịch sử phát triển xã hội loài ngườì. Và cuộc cách mạng đó làm thay đổi cục diện thế giới và làm thay đổi lịch sử nước Đại Việt.

Hậu quả của nền chính trị do đầu óc cổ hủ, thiển cận lãnh đạo là bi kịch mất nước.  Những tàu chiến, súng ống mua của Tây Phương từ thời Gia Long nay đã cũ nát, đã biến thành sắt vụn. Hơn 30 năm không tiếp xúc với tây phương, hậu duệ của Gia Long bàng hoàng trưóc những tiến bộ khoa học của đoàn quân xâm lược, một thời đưọc coi nhau như bằng hữu.  Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lưọc quốc phòng để đối phó. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng xử dụng vũ khí để chống trả quân xâm lăng. Từ đó từng phần của đất nước bị cắt dần cho thực dân Pháp.

Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Hậu quả tất nhiên là đất nước đã mất vào tay thực dân.

 

3
Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và hoà ước Patenotre 1884, toàn thể đất nước lọt vào tay thống trị của người Pháp và công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Và sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền Vương, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ.

Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 phát xuất từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau. Thế nhưng sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều Trung Hoa trên mặt trận ngoại giao và văn hoá, cùng với chính sách bế môn toả cảng, và sự tin tưỏng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho ở giai đoạn phá sản của nó, bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ, là những yếu tố quyết định làm cho đất nước mất cơ hội phát triển và trở thành suy  nhược, và đưa đất nước vào vòng nô lệ.

 

(Nguyễn Xuân Phước-Tiến sĩ luật khoa Hoa Kỳ)

 

Xem tiếp>>
© Báo  Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.

Địa chỉ liên hệ: Điện thoại: (405) 525-3881 Fax: (405) 691-2522 - Email: Danquyennews@aol.com