Kỳ này, mời quí độc giả đọc một bài viết rất hay của Bác sĩ Thái
Minh Trung, chuyên khoa Tâm Thần.
Bác sĩ Nguyễn Văn Đức
Ai là những người muốn tự tử?

Đa số mọi người chúng ta có bản năng bảo tồn sự sống. Nói chung
những sinh hoạt giúp bảo tồn sự sống được người ta chọn nhiều hơn,
như ăn uống hay sinh hoạt sinh lý. Sở dĩ như thế vì trong não bộ
chúng ta có trung khu thần kinh tạo sự khoái lạc khi chúng ta có
những sinh hoạt kể trên.
Một số người bị bịnh tâm thần do sự xáo trộn của những hóa chất
trong não bộ tạo sự mất cân bằng về tâm lý, làm họ lúc nào cũng
sống trong đau khổ, không có được những giây phút thỏa mái. Ðó là
những người bị trầm cảm (major depression), lo âu kinh niên
(generalized anxiety), bị chứng khủng hoảng tinh thần sau biến cố
(post traumatic stress disorder) hay bị chứng tâm thần phân liệt
(schizophrenia). Ở những người này, tuy thể chất khỏe mạnh nhưng
tinh thần họ lúc nào cũng đau khổ và đôi lúc cảm thấy sự hiện diện
trên cõi trần là một địa ngục. Họ thường có những ý nghĩ tự vận để
mong thoát được sự đau khổ dằn vật họ.
Cũng có một số người bị bịnh kinh niên hành hạ cơ thể hoăc bị ung
thư giai đoạn cuối. Cái thân thể bây giờ không mang niềm vui đến
cho họ được và ngược lại tạo sự đau khổ cho họ. Những người này dễ
tuyệt vọng và muốn tự tử như một lối thoát ra khỏi sự đau khổ. Một
số người khác bị mất những sở hữu mình đang nương tựa tạo sự bình
an trong tâm hồn, như người yêu đầu đời bỏ ra đi, thi rớt tú tài,
ly dị, mất việc làm, chồng hay vợ vừa mới chết. Họ cảm thấy bơ vơ
lạc lõng trong cõi đời, họ mất niềm tin, họ không thấy có tương
lai nên muốn kết liễu cuộc đời.
Trong giới y khoa cũng có nhiều bác sĩ tự tử vì không chịu nổi
những căng thẳng quá độ của nghề nghiệp. Những ngành có nhiều bác
sĩ tự tử là ngành ung thư, cấp cứu (emergency) và tâm thần
(psychiatry). Những vị bác sĩ này hết lòng trị bịnh nhân nhưng có
những trường hợp bịnh nan y không cứu được bịnh nhân. Họ cảm thấy
họ vô dụng và dễ dẫn đến tình trạng tuyệt vọng. Bác sĩ nữ, độc
thân có nguy cơ tự tử cao hơn đồng nghiệp nam.
Thống kê cho thấy những lứa tuổi có nguy cơ tự tử cao là tuổi vị
thành niên và tuổi cao niên. Có l? đây là những giai đoạn thay đổi
của cuộc đời dễ gây ra căng thẳng. Tuổi vị thành niên ít kinh
nghiệm, vừa rời khỏi mái ấm gia đình lăn lộn vào học đường và xã
hội. Ðây là thời điểm của những mối tình đầu bất thành, tập tành
dùng rượu hay ma túy, thi không đậu, hay không vào được những
trường như ý muốn. Ða số những bịnh tâm thần cũng xảy ra vào lứa
tuổi 20 này. Có lẽ do căng thẳng tinh thần.
Những người trải qua được những khó khăn này thường có việc làm ổn
định, có gia đình, và đảm nhận trách nhiệm gia đình nên xác suất
tự tử thấp ở lứa tuổi 30-40. Rồi khi đến tuổi cao niên, sức khỏe
kém, khả năng làm ra tiền ít hơn người trẻ, hưu trí, khả năng sinh
lý kém ở người nam, nhan sắc tàn tạ ở người nữ, bạn bè dần dần ra
đi. Những điều kiện này dễ tạo khủng hoảng tinh thần đưa đến ý
định tự tử.
Nói về sự hoàn tất tự tử (suicide commitment) thì phụ nữ có ý định
tự tử nhiều hơn nhưng hoàn tất tự tử ít hơn nam. Ða số phụ nữ uống
thuốc quá liều và sau đó cho người nhà biết. Người nam cho biết ý
định tự tử (suicide ideation) ít hơn nữ nhưng tỷ lệ hoàn tất tự tử
cao hơn nữ. Những người này thường dùng những cách mạnh bạo để kết
thúc cuộc đời như tự sát bằng súng, treo cổ hay tự gây ra tai nạn
xe cộ. Những người thuộc giới y tế có tỷ lệ hoàn tất tự tử rất cao
vì họ biết những cách kết thúc cuộc sống.
Những nghiên cứu cho thấy một khi người nào đó có ý định tự tử
thật sự thì thực khó mà cứu được. Những người được cứu thường là
những người dùng hành động tự tử như một lời cầu cứu tuyệt vọng để
cho người thân biết được những khổ tâm của họ.
Ðối phó với ý định tự tử
Chúng ta không nên coi thường những lời than van không
muốn sống của thân nhân. Ta không nên la mắng họ là tại sao nói
bậy bạ như vậy. Ta nên tìm hiểu tại sao họ có ý nghĩ như vậy. Tốt
nhứt là đưa họ đến gặp chuyên viên tâm lý. Ðây còn là một khó khăn
trong cộng đồng Á châu vì thân nhân hay sợ bị mang tiếng là trong
nhà có người điên khùng hoặc sợ xã hội chê cười rằng người trong
gia đình đã đối xử không tốt với bịnh nhân. Thật ra chuyên viên
tâm lý không phải là những người chữa bịnh khùng mà là chuyên viên
chăm sóc sức khỏe nội tâm.
Ða số những bịnh tâm thần nếu biết chữa trị sớm và nếu
bịnh nhân học hỏi được cách đối phó với những căng thẳng trong
cuộc sống thì sẽ có kết quả khả quan. Bịnh tâm thần khi để lâu hơn
6 tháng không trị sẽ trở thành kinh niên (chronic) dẫn đến việc
trị liệu khó khăn hơn vì nó ảnh hưởng sâu đậm hơn trên não bộ và
lan tràn đến nhiều mạch thần kinh (neural circuit) khác.
Ðiều lợi khi chữa trị sớm là bịnh tâm thần chưa ảnh
hưởng đến tánh tình nhiều. Tánh tình hiểu theo khoa học là một lối
đáp ứng với hoàn cảnh. Người bị lo âu kinh niên thường tránh xa
những buổi tụ họp gia đình hay xã hội. Thời gian đầu thái độ trốn
tránh đó không được coi là bình thường nhưng theo thời gian nó trở
thành thói quen “bình thường”. Bịnh nhân mất cơ hội học hỏi những
cách giao tế xã hội. Khi thói quen trốn tránh trở thành tánh tình
rồi thì ngay cả khi uống thuốc bớt lo âu, bịnh nhân khó tiến bộ vì
tánh họ đã trở thành không thích giao thiệp. Vì thế mà họ khó có
cuộc sống bình thường trở lại.
Khi chuyên viên tâm thần cảm thấy bịnh nhân không thể
tự chủ và dằn được ý định tự tử thì họ có thể buộc bịnh nhân vào
nhà thương tâm thần để quan sát trong vòng 3 ngày, danh từ chuyên
môn gọi là “5150 hold”. Thông thường những bịnh nhân trong thâm
tâm không muốn tự tử, khai ý định tự tử với bác sĩ thì mới cứu
được. Có một số bịnh nhân khi đã có ý định tự tử, họ rất bình tĩnh
không cho ai biết hết, ngay cả khi bác sĩ hỏi họ cũng chối, mặc dù
nghi ngờ nhưng bác sĩ không có bằng chứng cụ thể để giữ họ trong
nhà thương được. Càng bình tĩnh thì họ càng có nguy cơ cao hoàn
tất tự tử mà ngay cả người trong gia đình cũng không đoán trước
được.
Khi người nhà tự tử
Tự tử thường dẫn đến nhiều tình cảm mâu thuẫn ở người ở lại. Tình
cảm đầu tiên là bàng hoàng thương tiếc và buồn bã khi mất người
thân một cách đột ngột. Thương tiếc thường hay đi đôi với tức giận
tại sao người đó dại dột tự kết liễu cuộc đời bỏ lại người thân
không một tiếng từ giã. Rồi những mặc cảm xấu hổ (shame), hối hận
(guilt) trồi lên, họ tự dằn vật mình, ôn lại những lần bất đồng ý
kiến với người đó, soi mói những sai sót của mình, tự hỏi mình có
làm gì đem đến sự tự vận của người kia. Đôi khi sự tức giận được
đổ lên đầu một cá nhân nào đó trong gia đình, người đó trở thành
người có trách nhiệm với cái chết của người kia (scape goat). Nếu
bịnh nhân tự tử được điều trị bởi bác sĩ thì đôi khi vị bác sĩ đó
là người nhận lãnh những bực tức của gia đình bịnh nhân. Họ có thể
nghĩ là cách trị bịnh không đúng hay thuốc men gây ra sự tự tử đó.
Nói một cách khác, người thân tự tìm cách thoát khỏi những tình
cảm xấu (negative feelings) bằng cách vô tình tìm một người để đổ
trách nhiệm gây ra cái chết cho bịnh nhân.
Một số người có thái độ ngược lại là nuốt những tình cảm xấu kia,
họ âm thầm chịu đựng sự buồn tủi trong cô đơn. Người Á châu thường
có những thái độ kể sau. Một người trong nhà tự tử được coi là một
điều không tốt nên họ giấu giếm không nói cho ai biết. Đề tài đó
trở thành cấm kỵ (taboo) ngay cả đối với những người thân cận như
con cái không thích nhắc tới chuyện này trong những lần gặp mặt
gia đình. Có lẽ một phần đa số người Á châu có tín ngưỡng và không
có tôn giáo nào khuyến khích người ta tự tử để tránh khổ đau. Thái
độ này dễ sanh ra bịnh mất ngủ và có thể đưa đến bịnh trầm cảm
trong tương lai nếu trong đời người đó có một biến cố thứ hai xảy
ra (thí dụ như mâu thuẫn trong sở làm, con cái rời nhà đi học xa,
...).
Thái độ tốt nhứt là trau d?i lòng từ bi hỷ xả. Ta cũng nên thông
cảm (từ bi) và tha thứ (hỷ xả) cho người quá cố đã có hành động tự
tử trong lúc tuyệt vọng vô cùng. Chính vì sự tuyệt vọng mà người
đó không nắm được những bàn tay thương yêu mà gia đình chìa ra. Ta
nên hỷ xả để linh hồn người đó không áy náy rằng qua hành động tự
tử họ đã tạo một vết thương lòng sâu sắc cho người ở lại. Nếu quả
thật ta thương người đó, ta nên cầu nguyện cho người đó vượt qua
được bóng tối của tuyệt vọng. Linh hồn sẽ sáng suốt hơn khi rời
khỏi vùng rung động nặng nề của thể xác. Nhờ sự rung động tâm linh
của kinh hay cầu nguyện mà linh hồn người quá cố cảm nhận được ánh
sáng của tình yêu.
Cuộc sống thật vô thường. Không ai giữ được thân xác mãi mãi. Ta
cũng nên hiểu rằng ta không thể để lại mạng sống thể chất trên cõi
trần này mãi mãi. Ta cũng không thể giữ được mãi mãi người ta
thương yêu. Ngay cả thân xác của Đức Phật và Chúa Jesus cũng phải
trải qua cái chết. Những dấu chân ta để lại cho đời hậu thế là
những kỷ niệm đẹp và tình yêu trao cho nhau. Nếu quả thật ta
thương người quá cố thì ta hiểu rằng họ muốn chấm dứt sự khổ đau.
Họ đã chọn sự ra đi như thế thì ta nên thương họ, tha thứ họ và
chúc họ ra đi bình an.