|
Nguyễn hữu Hoạt
Tiếp theo…
Sau 2 ngày viếng
thăm Florence đã để lại trong tôi một ấn tượng
khá đậm sâu về công trình kiến trúc cũng như
nghệ thuật điêu khắc. Tôi cho rằng, nước Ý là
nơi tiêu biểu cho một nền văn minh Tây phương
trên phương diện nghệ thuật, hội họa cũng như
nơi sản sinh ra rất nhiều nhân tài về văn chương,
kiến trúc và điêu khắc. Bên cạnh những công
trình nhân tạo, thiên nhiên đã ưu đãi cho nước Ý
nhờ bởi sông rạch cho đến núi đồi. Nhờ ở yếu tố
thiên thiên và nhân tạo nên nước Ý ngày nay đã
thịnh vượng do số lượng du khách hằng năm. Đặc
biệt ngoài kỹ nghệ bằng da (da giày, áo da, xách
tay v.v..) Florence còn là một nơi được liệt kê
vào hạng nhất về phô-mát (cheese), rượu nho
(wine) và thịt bò. Ở Mỹ chúng ta thường nghe
thịt bò nỗi tiếng ở vùng Kansas và Iowa, do bởi
nhà nông cho bò ăn bắp nên thịt ngon- ngọt.
Riêng ở Florence người hướng dẫn chương trình
cho biết có một số nơi người ta nuôi bò bằng cây
lúa mì non. Nhờ thế thịt bò ở đây khi nướng lên
có mùi thơm, ngọt lại mềm. Cầu kỳ hơn nữa, có
những nhà hàng sang trọng bán thịt bò non còn
trong bụng mẹ. Lọai thịt nầy rất mềm đến độ
không cần dao để cắt. Dĩ nhiên, tôi muốn chứng
nghiệm lời nói của người hướng dẫn và so sánh sự
khác biệt giữa thịt bò Oklahoma so với thịt bò
Florence có khác biệt đến mức độ nào? Thưa rằng
sau những phút giây “khám nghiệm” tôi cho rằng
Florence cũng không khác Oklahoma bao nhiêu. Có
thể đây chỉ là một “huyền thọai thịt bò” người
ta thêu dệt thêm hương thêm hoa. Tuy nhiên, nói
về rượu nho thì có sự khác biệt. Ví dụ nếu gọi
một chai wine với giá trung bình trong nhà hàng
hạng khá là $120 dollar ở Mỹ thì cũng $120 US ấy,
tại Florence mùi vị có phần ngon, thơm và đậm đà
hơn...

Theo chương trình, sáng nay chúng tôi sẽ đi thăm
một vài di tích khác nữa rồi ghé lại dùng buổi
trưa với món ăn “quốc hồn” của Ý, đó là
Spaghetti hoặc Pizza tùy theo sỡ thích của từng
người. Hôm nay, để thỏa mãn tính tò mò tôi chọn
nhà hàng chuyên môn về món Pizza cùng một chai
rượu nho trắng sản xuất vào năm 1980 và bắt đầu
so sánh sự khác biệt giữa Pizza Hut và Pizza Ý.
Nhìn chung, Pizza Ý bánh mỏng hơn, thịt ít
cheese nhiều hơn Pizza Hut. Tuy nhiên, crust (bánh)
của Ý có phần dòn và thơm hơn crust của Pizza Mỹ.
Đó là cảm nhận của miếng Pizza đầu tiên hoặc
miếng thứ 2, nhưng đến miếng thứ 3 và sau nữa
thì dù của Ý hay của Mỹ cũng giống nhau vì cả 2
loại Pizza trên đều là chị em “một cha khác mẹ”
mà ra.
Ăn uống xong chúng
tôi bắt đầu di chuyển ra trạm xe lửa xuôi về
Vatican, thành phố của nghệ thuật, đức tin và
quyền lực trước đây và hãy còn phản phất trước
sức mạnh vô hình nhưng đầy đủ vật lý tính bây
giờ. Đường về Vatican ngồi trên xe lửa nhìn ra
ngoài là những đồng cỏ xanh non cùng núi đá hùng
vĩ, thâm cao làm tôi nhớ lại con đường từ Hà Nội
chay về Nghệ An, Thanh Hóa quê hương của nhà
cách mạng Phạm Hồng Thái, người đã gây chấn động
và khiếp sợ cho bọn thực dân qua tiếng bom Sa
Điện ám sát tên toàn quyền Đông Dương Martial
Henri Merlin, nhưng thất bại nên ông đã gieo
mình xuống dòng sông Châu Giang tự vẫn ở tuổi
28. Cứ thế đồng núi nối tiếp theo nhau có lúc
giống như con đường đất chạy về Hoa Lư quê hương
của vị anh hùng Đinh Bộ Lĩnh, nước tôi. Chỉ khác
một điều rằng, những lần trước đây trên những
con đường Việt Nam tôi đi qua trào dâng cảm xúc,
tôi trân trọng và cảm ơn từng di tích một của
tiền nhân chúng ta để lại cho dù nhỏ bé, đơn sơ.
Ở đó, trên đất nước tôi, cứ mỗi gang tấc của
bước chân đi, tôi cảm nhận được hơi mát từ dòng
sông Hồng hay sông Tiền sông Hậu mang đến nhảy
hót rộn ràng. Nhưng hôm nay, trên chuyến xe lửa
xuôi về Vatican, tâm hồn tôi ghi nhận nhưng dững
dưng khi nhìn đồi núi hoang sơ và sông nước hửng
hờ như lòng du khách. Bởi từ thẳm sâu qua hiện
thực và lịch sử, tôi hiểu được một điều rằng,
đường về Vatican nơi mà một số người nắm giữ
quyền lực trước đây đã lợi dụng và khai thác đức
tin vào Thượng Đế, tạo nên các cuộc tranh chấp
dưới thế lực thần quyền, đưa đến nhiều cuộc
chiến đẫm máu trên các dân tộc kém văn minh.
Trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta. Để rồi
chúng ta phải mất gần cả 100 năm, máu đổ ruột
mềm, đất nước tan hoang, nhà tan cửa nát, cả
triệu, triệu…... người phải hy sinh mới dành
được độc lập cho nước nhà... Ôi chua chát thay!
Thế mà giờ nầy còn có những kẻ giẫm lên bước
chân của Hoàng Cao Khải và Nguyễn Thân.
Sau gần 2 giờ đồng
hồ, chúng tôi đã đến trung tâm Vatican đúng vào
giờ tan sở. Nhìn giòng người qua lại và xe cộ
lưu thông tôi thấy chẳng khác gì khi lái xe ở
New York. Nhưng tuyệt vời thay, mọi người rất
tôn trọng luật lệ giao thông và nhường nhịn
khách băng qua đường. Đặc biệt hơn nữa khi xe
bus đón chúng tôi từ ga xe lửa chở về khách sạn
khỏang 35 phút, tôi không thấy một chiếc xe nào
vượt đèn vàng hay chen lấn. Nhờ ở tinh thần tôn
trọng luật lệ giao thông nên mặc dầu xe cộ đông
đúc nhưng không bị kẹt.
Vatican về đêm cũng giống như những thành phố
khác, nhộn nhịp tưng bừng. Nhưng Vatican thành
phố quyến rũ của tuổi trẻ và du khách. Nơi đây
có một lịch sử đáng được suy gẫm, có danh xưng
là The Vatican City State, đầy đủ tính độc lập
(independent) và chủ quyền (sovereign). Ở vào
năm 1859 được phân chia một khu vực rộng 17,000
Sq miles tương đương với 44,030 sq km. Trong
suốt thời gian tranh đấu để nước Ý thống nhất từ
năm 1860 đến 1870 phần đông lãnh thổ nầy trực
thuộc nước Ý. Nhưng chính phủ Ý đã ban hành một
đạo luật vào ngày 13 tháng 5, năm 1871 rằng
quyền thế tục đức Giáo Hoàng (the temporal power
of the pope) đã được hủy bỏ, ngoại trừ Lateran
Palace và Villa of Castel Gandolfo. Dĩ nhiên khi
đạo luật nầy ban hành người đầu tiên phản đối
liên tục là Đức Giáo Hoàng.
Cho đến ngày 11
tháng 10 năm 1962, một đại hội toàn thế giới
Vatican II được tổ chức bởi John XXIII hoạch
định kế hoạch hiện đại hóa nhà thờ Roman
Catholic. Đức Giáo Hoàng Paul VI đã chủ trì
trong 3 cuộc họp khoáng đại thế giới. Và Vatican
gọi đây là cuộc cách mạng công giáo nhằm tập
trung quyền lực và tạo thêm vai trò lớn rộng hơn
của các Tổng Giám Mục địa phận thích nghi với
nghi thức tế lễ của từng địa phương. Riêng quyền
hạn của Đức Giáo Hoàng, ông có toàn quyền về
hành pháp và tư pháp và toàn quyền bổ nhiệm các
Đức Hồng Y và còn là Chủ tịch Hội đồng Hồng Y.
Một chính quyền dân sự tại Vatican được điều
hành bởi Chủ tịch Hội Đồng Hồng Y, dưới đạo luật
Fundamental Law 2000. Riêng về hệ thống pháp
luật thì được căn cứ trên đạo luật Canon law và
tòa án là một phần của Judicial system.
Toà án tại
Vaticant có đầy đủ đặc tính như một tòa án hoàng
gia có đầy đủ nghi lễ và ăn bận đồng phục. Kể từ
thời Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963) Đại Hội
Hội Đồng Vatican đã quyết định đổi tên đoàn hộ
tống Giáo Hoàng được khai sinh hồi thế kỷ thứ 16
mang tên là Swiss Guards đổi thành Catholic
Swiss và y phục được mặc theo mẫu của nhà thiết
kế Michelangelo. Dĩ nhiên, Vatican có thể sẽ
không hiện hữu, nếu Chúa Jesus không đặt tên
tông đồ của ngài là Peter (còn có nghĩa là
“stone” và tiếng Ý “Pietra”). Peter là một tông
đồ can đảm làm nhiều hơn nói, ngài đã bị cầm tù
nhưng nhờ ở phép lạ nên ngài được trả tự do. Từ
đó, Peter đã từ bỏ đất Jerusalem và tìm về thủ
đô của thế giới lúc bây giờ là La Mã. Nơi đây
ông đã trở thành giám mục rồi thành vị Giáo
Hoàng đầu tiên trị vì trong 25 năm, ông đã vâng
lời bề trên đặt nền móng thành lập một nhà thờ
quan trọng nhất trong lịch sử loài người mang
tên St. Peter’s Basilica tại La mã.
Lịch sử 500 năm
đội cận vệ của giáo hoàng

Lực lượng bảo vệ
đặc biệt của người đứng đầu toà thánh Vatican,
được thành lập lần đầu tiên gồm có 150 binh sĩ
người Thụy sĩ đặt chân đến Rome vào ngày
22/1/1506 để bảo vệc Đức Gíao Hoàng Julius II.
Kể từ ngày ấy đến nay, những người lính trong
đội quân bảo vệ Vatican luôn luôn là người Thụy
sĩ, và họ đã liên tục phục vụ tất cả 42 vị Giáo
Hoàng kế tiếp. Sau 21 năm thành lập Lực lượng
bảo vệ Giáo Hoàng đã lập công lớn qua hành động
bảo vệ Giáo Hoàng Clement VII thoát khỏi cuộc
tấn công của quân lính Tây Ban Nha vào ngày
6/5/1527. Kể từ đó, hằng năm vào ngày 6 tháng 5
Vatican luôn luôn làm lễ kỷ niệm 147 người lính
hy sinh, đồng thời các cận vệ tiếp tục tuyên thệ
giữ lời thề trung thành với Đức Giáo Hoàng.
Từ trước đến nay,
mọi người thường cho rằng Michelangelo là tác
giả của những bộ đồng phục đội cận vệ. Nhưng
theo tiết lộ mới của ông Richard, một người khác
đã vẽ kiểu bộ trang phục gồm hai màu xanh và
vàng hồi vào cuối thế kỹ 19. Ông khẳng định
trong lễ công bố cuốn sách tại doanh trại của
đội cận vệ ở Vatican: "Michelangelo có rất nhiều
tài năng nhưng ông ấy không phải là tác giả của
những bộ quân phục nầy".
Hiện nay lực lượng
cận vệ của giáo hoàng hiện có 110 thành viên do
đại tá Elmar Theodore Mader chỉ huy. Truyền
thống và quy định được đặt ra từ 500 năm trước,
mọi thành viên của đội cận vệ nầy phải là công
dân Thuỵ Sĩ và theo đạo công giáo. Người được
tuyển mộ phải có chiều cao trên 1,70 mét và phải
được huấn luyện căn bản quân sự tối thiểu 2 năm.
Lính Thuỵ Sĩ bảo
vệ một cổng vào Vatican.
Ngoại trừ lực
lượng an ninh của Ý và những cảnh sát mặc thường
phục, trách nhiệm bảo vệ Đức Giáo Hoàng vẫn do
đội cận vệ Thuỵ Sĩ đảm trách. Những binh sĩ cầm
kích bảo vệ các cửa chính dẫn vào cung Giáo
Hoàng và đứng gát phía trước căn hộ, hoặc nhất
cử lưỡng tiện mỗi khi Giáo Hoàng di chuyển họ
đều được thông báo để bảo vệ an ninh. Những
người lính nầy biết xử dụng cả những lọai gươm
kiếm cũng như các lọai vũ khí hiện đại.
Đội cận vệ luôn
theo sát Giáo Hoàng và luôn luôn xuất hiện công
khai, kể cả những chuyến công du ở nước ngoài.
Một số thành viên của đội cận vệ về sau trở
thành linh mục. Theo đại tá Theodore Mader, hiện
có 2 cựu cận vệ người Thuỵ Sĩ theo học để trở
thành linh mục trong các trường dòng ở Rome.
Saint Peter’s Square

Được tọa lạc chính
diện của St. Peter’s Basilica trong Vatican
City. Đây là một vùng rộng mở đã được làm lại
bởi kiến trúc sư Gian Lorenzo Bemini vào năm
1656-1667 dưới sự chỉ đạo của Giáo Hoàng
Alexander VII. Trong Peter’s Square có 2 công
viên tuyệt đẹp, về phía nam, bên trái được kiến
trúc bởi ông Carlo Maderno (1613), và công viên
phía bắc, bên phải do sáng kiến của ông Bemini.
Mục đích của việc thiết kế lại để mọi người có
thể nhìn thấy Giáo Hòang làm lễ khi đứng ở trung
tâm nhà thờ hoặc từ các cửa sổ trong Vatican
Palace. Trung tâm của Square là một tháp cao
25.5 mét được lấy từ Ai cập mang về Rome vào thế
kỷ thứ nhất và được dựng lên vào năm 1585 do
lệnh của Giáo Hoàng Sixtus V. Công trình dựng
lên mất khoản thời gian 4 tháng với rất nhiều
thiệt hại về sinh mạng được dấu kín. Nếu tính
thêm cây thánh giá bên trên thì tháp nầy có thể
sẽ cao đến 40m. Hình dáng của square được trông
vô cùng vĩ đại nhờ ở hàng cột. Nhìn vào vị trí
đặt đểø hàng cột người ta tưởng tượng như một
vòng tay rộng mở chào đón mọi người bước vào
ngôi thánh đường. Khoản cách ở giữa đài tưởng
niệm của mỗi công viên là một tảng đá vòng tròn
chạy quanh như một đường kinh tuyến. Nếu bạn
đứng ở vị trí đầu hàng cột bạn sẽ không nhìn
thấy cột thứ 2 vì lối kiến trúc cực kỳ tinh vi.
Trên đầu của mỗi hàng cột có gắn hình của 140 vị
thánh, được các nhà điêu khắc chạm trổ rất công
phu vào năm 1662-1703. Bên cổng thuộc hướng nam,
cột đầu tiên khắc hình St. Macrina, bà nội của
cha bề trên Cappadocia, tiếp theo theo là hình
của các vị, theo thứ tự như sau: St. Dominic,
St. Fracis, St. Bernard, St. Benedict, St.
Ignatius of Loyola. Ngoài ra còn số hình ảnh của
các tông đồ ở cuối hàng cột...
(Còn nữa)
 |