|
Nguyễn hữu Hoạt
Tiếp theo…
Trở lại chuyến đi
Âu châu, chúng tôi khởi hành từ Oklahoma City
đến phi trường St.Paul, MN. Từ đây, sẽ bay về
Amsterdam Airport, thuộc Netherland mất 8:35
phút, nghỉ tại đây hơn 2 giờ 30 chúng tôi tiếp
tục lên đường bay về hướng Venice, thành phố
trên nước đón nhận mỗi năm trên 20 triệu du
khách. Trước khi phi cơ hạ cánh đã bay vòng
quanh thành phố, tôi đưa mắt nhìn xuống dưới
thấy những giòng sông tiếp nối lẫn nhau, và bên
trên những giòng sông ấy là những biệt thự, nhà
thờ, và các lâu đài cổ kính.
Khi bước ra phi cơ
lòng tôi nhẹ nhỏm sau chuyến bay dài, đi dọc
hành lang xuống lầu để nhận hành lý. Điều làm
tôi ngạc nhiên không ít là phi trường Venice so
với số lượng du khách đến đây trên 20 triệu
người hằng năm thì đây không phải là một phi
trường lớn so với những nơi khác tôi đã đến như
New York, Paris, Bangkok, Thượng Hải, Bắc Kinh
hoặc Tokyo v.v... Tuy nhiên, cách thức tổ chức
thật nhịp nhàng và nhân viên phi trường rất lịch
thiệp. Vừa bước ra khỏi cửa sau khi nhận hành lý,
Quách Y Lành đã nói nhỏ bên tai: “Họ đến đón
mình kìa anh”. Tôi theo chân Y Lành tiến về phía
người cầm bảng tên. Bằng một nụ cười tươi, nhân
viên du lịch đã chào đón chúng tôi và xách hành
lý phụ giúp hướng dẫn đến xe Van đậu sẵn. Trên
đường từ phi trường chạy về trạm Taxi (bằng canô)
chúng tôi đi ngang qua những căn nhà nhỏ đủ màu
sắc nằm thu mình trong cánh đồng nho và trước
sân nhà thỉnh thoảng cũng có giàn hoa giấy, hoa
vạn thọ và những hàng cây lúp xúp giống như hàng
chè tàu làm cho tôi nhớ Huế thiết tha. Cũng thế,
trời về chiều ở Venice mù sương như chiều của
Huế và sáng Đà Lạt. Nhưng Huế với tôi là một kỷ
niệm êm đềm mộng mơ trong thời tranh đấu. Huế
khép mình trong cái phồn hoa đô thị, nhưng Huế
kiêâu sa và lộng lẫy, nhân hậu và thủy chung,
giống như người nữ sinh Đồng Khánh năm xưa mà
tôi đã gặp nay trở thành người mẹ cuả các con
tôi.

... Chúng tôi được chuyển sang một chiếc canô
đậu sẵn chở về khách sạn nằm trên nước. Hai bên
bờ sông là những căn nhà đã cũ được xây cất cách
đây vào khoảng thế kỷ thứ VIII trên một quần đảo
có 118 hòn đảo nhỏ uốn mình quanh 177 canal cạn.
Venice còn được chia thành 6 khu di tích (sestieri)
là: San Marco, Dorsoduro, San Polo, Santa Croce,
Cannaregio và Castello. Cuộc sống vận hành nhịp
nhàng quanh 6 sestieri này. Vùng nước nông
Laguna Veneta có nhiều đảo như Murano, Burano và
Torcello. Đê chắn sóng ở phía đông có tên là
Lido di Venezia, dài 10 km.
Thành phố Venice
được xây trên một hòn đảo được tiếp nối bởi 400
cây cầu. Vào những ngày tháng đầu rất xa và rất
lâu khi Venice được khai sinh, những canal nhỏ
và cạn nầy đã đóng vai trò chính trong việc vận
chuyển. Canal là một loại Freeway của Venice
cách đây cả ngàn năm. Mãi cho đến thế kỷ 19 kỹ
nghệ xe hơi và tàu hỏa đã làm thay đổi bộ mặt và
sức sống của Venice.
Cho đến hôm nay,
các sử gia người Ý muốn tìm kiếm lại lịch sử của
sự hình thành Venice, nhưng không có tài liệu
nào có sức tin tưởng khả thi. Người ta chỉ biết
rằng những sắc dân như Padua, Aquileia, Altino
và Concordia đã trốn chạy sự xâm lăng của người
Đức đến đây định cư và lập nghiệp. Bắt đầu từ
năm 166-168 sắc dân Quadi và Marcomanni đã phá
hủy khu vực mà hiện nay là khu Oderzo. Trong
những ngày đầu của thế kỷ thứ 5 người Roman đã
chiến thắng sắc dân Visigoths, 50 năm sau các
tranh chấp quyền lực được kết thúc bằng sự chiến
thắng của người Attila. Từ đó và từ đó, vào
khoảng năm 568 các sắc dân pha trộn lại với nhau
và Venice được hình thành? Sự hình thành đầu
tiên của Venice là lòng nhớ ơn Thượng đế qua các
công trình xây dựng những nhà thờ đẹp nhất lịch
sử loài người. Sau đó được kế tiếp bằng những
dinh thự, hải cảng v.v…
Dần dần bắc đầu từ
thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 12, Venice được
triễn khai trở thành một trong những thành phố
lớn vì có vị trí kinh tế mang tính chiến lược.
Nơi đây còn là hải cảng quan trọng vào bậc nhất
trong vùng Tây Âu nói riêng và thế giới nói
chung. Vào cuối thế kỷ 13 Venice đã trở nên một
thị trấn kiến trúc tân kỳ nỗi tiếng Âu châu và
còn là thị trường thương mại lớn nhất của thế
giới Muslim, có trên 3,300 thương thuyền vượt
đại dương. Ngoài ra, Venice còn là nơi sản sinh
ra rất nhiều họa sĩ tài ba nỗi tiếng trong lịch
sử loài người. Riêng về hệ thống điều hành thành
phố Venice được tổ chức qua khuôn mẫu Roma.
Nghĩa là thành phố được điều hành bởi Hội Đồng
Thành Phố. Hội đồng nầy được dân cư Venice bầu
lên và được quyền chỉ định cá nhân vào các chức
vụ hành chánh để điều hành cơ sở chính quyền...
Cuối thế kỷ 19,
cuộc sống ở Venice công nghiệp phát triển, đường
biển mở rộng, xây cầu xe lửa nối liền với lục
địa, mở rộng và khơi thông kênh rạch, xây dựng
đường bộ trong khu trung tâm và tăng trưởng du
lịch. Thế kỷ 20 là thời gian Venice có liên hệ
chặt chẽ với đất liền. Sau Thế chiến 2, nhà máy
lọc dầu, luyện kim, nhà máy nhựa và hoá chất
được xây dựng ở Marghera tạo thêm nhiều việc làm
cho người dân.
Sau hơn 30 phút
cano đã dừng trước khách sạn, chúng tôi bước ra
và đi thẳng vào văn phòng để check in. Thủ tục
nhanh chóng và khỏi lo lắng hành lý vì có người
sẽ mang đến tận phòng. Chúng tôi ở trên tầng
thứ 7, mặc dầu phòng ốc nhỏ hơn so với khách sạn
ở Mỹ, tuy nhiên rất tiện nghi và trình bày trang
nhã, sạch sẽ. Phía cửa sổ của phòng trông ra phố,
nhà cửa san sát bên nhau, nhìn chệch về bên trái
là hải cảng, nơi đón nhận hàng hóa cung cấp cho
Venice. Sau chuyến bay dài, chúng tôi tắm rửa
và nghỉ ngơi cho lại sức. Sau một giấc ngủ dài,
lần mò ra phố xem ngắm phố phường về đêm. Cảm
nhận đầu tiên tôi thấy cái tấp nập của Venice
cũng giống như Paris, New York, hoặc Tokyo. Chỉ
khác một điều rằng trong trung tâm của Venice
không xe cộ mà chỉ ca nô và thuyền nhỏ chuyên
chở khách trên sông. Venice về đêm là một thành
phố tuyệt vời với những thức ăn Âu châu cùng
những ly wine nồng nàn trong suốt, bên cạnh
miếng Filet Mignon tuyệt hảo, hoặc ly cafê đầy
đủ mùi vị và hương sắc cuộc đời.
Tôi đã chìm mình
vào không gian Venice, một không gian mà vào
những ngày đầu ở Mỹ, nhà tôi, Quách Y Lành mơ
ước được đặt chân đến. Đêm nay, trong cái không
gian vô ngần ấy, bằng da bằng thịt lẫn cả tâm
hồn chúng tôi đã nhìn ngắm phố phường và cùng
bước chung trong dòng người xa la để tận mắt
thấy được công trình kiến trúc cách đây hơn cả
ngàn năm. Trời về đêm, sương xuống, mưa rơi, tôi
có cảm tưởng như bầu trời xuống thấp, hai chúng
tôi chọn một nhà hàng lộ thiên bên cạnh một dòng
sông chảy ra biển. Biển rộng mênh mông và dòng
sông nhỏ bé. Dưới những ánh đèn hai bên đường
tôi thấy mặt nước lăn tăn trắng bạc như những
mái tóc chuyển màu, hòa lẵn cùng những giọt mưa
mỏng xô đuổi nhau, mang thêm cái lạnh hắt hiu,
hiu hắt... Còn gì tuyệt vời hơn nữa khi nhìn
trời mưa bay lất phất, bên ly cạnh ly cafê ngắm
phố ngắm phường, lắng nghe sự chuyển động của
những cành Ô-liu va chạm vào nhau như câu chuyện
tình nói mãi không thôi cùng với gió với mây.
Bỗng dưng tôi thấy Venice có sức quyến rũ lạ
thường, như lời ai đó đã nói. Quả thật đây là
miền đất bình yên của nữ hoàng Adriatic. Và đây
chính là thành phố của kinh rạch và lâu đài,
duyên dáng nhưng u buồn, cô đơn nhưng không hề
đơn độc, vì dòng nước là người tình và đất liền
là sức sống, cả hai không thể tách rời với nhau,
giống như mái ấm gia đình.

Đêm nay, trong
lòng Venice, tôi uống từng giọt cafê nhớ lại
trước đây tôi đã tìm đọc về thành phố nầy được
xây dựng nên nền cộng hoà. Bắt đầu họï triều
cống Byzantine (vương quốc La Mã phương Đông) và
vị tổng trấn đầu tiên được bầu vào năm 697.
Venice phát triển nhanh chóng, cùng với sự cạnh
tranh của các thành phố có điều kiện tự nhiên
tương tự như Genoa. Dù có nhiều trận chiến đẫm
máu và hoà ước, hải quân của hai thành phố vẫn
bám đuổi nhau trên khắp Địa Trung Hải cho tới
khi Venice giành chiến thắng tại trận Chioggia
năm 1380. Venice hướng vào lục địa, đòi quyền tự
chủ và được cung cấp thêm dân vì dân số của
Venice giảm nhiều sau trận dịch hạch năm 1348.
Thương mại tiếp tục phát triển nhưng Venice mất
địa vị thống trị khi người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm
Constantinople năm 1453.
Theo tiến trình lịch sử, các vùng đất dần dần
hình thành quốc gia và đế chế. Thổ Nhĩ Kỳ nhanh
chóng mở đường vào Địa Trung Hải, giành đảo Síp
năm 1570 và Crete năm 1669. Trong khi đó, tại
Venice, tham nhũng tràn lan, nền chính trị yếu
kém nên chẳng có ý chí và tiềm lực quân sự để
chiến đấu. Dịch hạch tiếp tục cướp đi 1/3 dân số.
Vụ cháy lớn tại cung điện của quan tổng trấn làm
mất nhiều tác phẩm nghệ thuật vô giá. Quân đội
của Napoleon tràn vào thành phố năm 1797 và cuối
cùng, Venice rơi vào tay người Áo. Venice thống
nhất với vương quốc Italy năm 1866.
Rồi,
Cuối thế kỷ 19,
cuộc sống ở Venice vô cùng sôi động: nền công
nghiệp phát triển, thông thương đường biển mở
rộng, xây cầu xe lửa nối liền với lục địa, mở
rộng và khơi thông kênh rạch, xây dựng đường bộ
trong khu trung tâm và tăng trưởng du lịch. Thế
kỷ 20 là thời gian Venice có liên hệ chặt chẽ
với đất liền. Sau Thế chiến 2, nhà máy lọc dầu,
luyện kim, nhà máy nhựa và hoá chất được xây
dựng ở Marghera tạo ra nhiều việc làm cho người
dân Venice.
Để rồi, trong
những ngày sau nầy chúng tôi đã bị mê hoặc trước
vẻ đẹp cổ kính của vùng đất Venice, cùng với sự
ngưỡng mộ những người đã xây dựng nên các công
trình nghệ thuật và biến nơi đây thành trung tâm
thương mại sầm uất của thế giới.
Cung điện Ca'
d'Oro
Công trình theo
phong cách Gothic từ thế kỷ 15 này hiện là Bảo
tàng Nghệ thuật Franchetti, nơi trưng bày các
tác phẩm điêu khắc bằng đồng, thảm thêu và tranh
từ thế kỷ 15-16. Đứng trên ban công tầng 1 và
tầng 2 của toà nhà, du khách sẽ được chiêm
ngưỡng toàn cảnh đại lộ mang tên Kênh đào của
Venice - Dell'Accademia.
Cung điện Ca'
d'Oro là nơi trưng bày những tác phẩm quý nhất
của Venice, bao gồm những hoạ phẩm thể hiện sự
phát triển của thành phố này từ thế kỷ 14 đến
18, trong đó có kiệt tác Madonna and Child with
Two Donors của Paolo Veneziano và tác phẩm Chúa
Jesus bị đóng đinh trên cây thập giá.
Lâu đài Tổng trấn
Đây là một công
trình hiếm hoi xây dựng theo kiến trúc Gothic
mang đặc trưng của người Venice. Là nơi ở của
quan tổng trấn và các cơ quan của chính quyền
Venice, trong đó có cả nhà tù từ khi nền cộng
hoà được thiết lập. Hai mặt tiền của cung điện
làm bằng đá Istria trắng và đá cẩm thạch hồng
Verona soi bóng xuống mặt nước.
Chợ hoa quả ở
Rialto.
Hồ Rialto từng là
trung tâm thương mại của Venice, cũng là nơi có
chiếc cầu đầu tiên bắc qua kênh đào. Ngày nay,
khu vực nổi tiếng này là chợ rau quả luôn ồn ào,
tấp nập kẻ mua người bán. Đây cũng là nơi bán đồ
lưu niệm cho du khách. Ngoài ra ở Pescaria mới
có 100 tuổi nhưng truyền thống bán cá tươi ở đây
có từ năm 1300.
Nhà thờ lâu đời
nhất của thành phố nằm ở chính giữa nơi họp chợ.
Người Venice cho rằng, nhà thờ này được khởi
công xây dựng ngày 25/3/421.
Nhà thờ St. Mark:
Nhà thờ St Mark
được tạm thời xây dựng tại Doge’s Palace vào năm
828, nhưng đã bị tai nạn hỏa họan vào năm 976.
Sau đó được khởi công trở lại vào năm 978. Đây
là một trong những điện thờ linh thiêng nhất
trên thế giới, nơi chứng kiến kỷ nguyên vàng của
thương mại và hàng hải của nền cộng hoà ở
Venice. Với vô số chiến lợi phẩm cướp bóc được
trong suốt thời gian hùng cứ mặt biển và từ cuộc
tấn công vào Constantinople năm 1204. Trong số
đó có nhiều tuyệt tác bằng vàng, men và trang
sức quý giá. Còn có cả chiếc vòng gai được cho
là lấy từ chiếc vương miện chúa Jesus từng đội.
Nhà thờ còn là bản
sao của 12 tông đồ ở Constantinople và được
phong thánh năm 1094. St Mark nổi tiếng với
những vật trang trí khảm vàng ngoài cửa vào và
trong các mái vòm. Du khách nào đến đây cũng
phải trầm trồ trước vẻ lộng lẫy và lấp lánh của
vỉa hè lát đá cẩm thạch từ thế kỷ 12.
Quảng trường St
Mark

Napoleon gọi nơi đây là “phòng tranh hàng đầu
châu Âu” với cảnh tượng thanh bình, thân thiết
giữa du khách và chim bồ câu. Trên quảng trường,
không khí lễ hội tràn ngập quanh năm, với tiếng
nhạc phát ra từ các quán cà phê, tiếng chim câu
gù và những người phục vụ bữa tối ngoài trời.
Dĩ nhiên Venice sẽ còn nhiều di tích và thắng
cảnh nữa. Nhưng trong 3 ngày tại đây chúng tôi
đã thấy được sự tiến hóa của loài người. Trong
đó, tiền nhân của người Ý đã để lại cho con cháu
họ một gia tài vô giá và khổng lồ. Chính gia tài
nầy đã mang lại công ăn việc làm và đời sống cho
dân tộc Ý qua ngành du lịch một cách phồn thịnh
từ thế kỷ nầy cho đến thế kỷ kia vô cùng bất tận…
Còn nữa
 |