a
        

Lạng Sơn, một lần đến.

Quách Y Lành

Nội dưới bầu trời mờ mờ sáng, lắm mây và thời tiết se se lạnh của những ngày Tết vẫn còn vương lại dường như vẫn còn luyến tiếc, chưa chịu dời gót. Mặc dù đã mồng năm Tết, nhưng hai bên đường người ta vẫn còn phơi bày bán những cành hồng đào đơm đầy bông. Đặc biệt, ở Hà Nội đào nhiều hơn mai, còn trái lại Sài Gòn thì nhiều mai hơn đào. Tôi nghĩ có lẽ do khí hậu giữa hai miền khác nhau.  

Chúng tôi, năm người ngồi trên chiếc xe Land Cruiser tìm được quán phở trên con đường nhỏ. Hàng phở của cặp vợ chồng trẻ, được cha truyền con nối đã hiện diện rất lâu và nổi tiếng phở ngon, nhưng lại không có bảng hiệu. Dĩ nhiên chỉ có những người sống tại Hà Nội sành ăn mới biết đến, còn như tôi và H. nếu không có mấy người bạn đi chung dẫn lối chỉ đường, có lẽ sẽ không tìm thấy hay dè dặt khi bước vào quán phở nhỏ nầy. Phở Bắc Hà Nội không giống như những tiệm phở ở Sài Gòn hoặc các nơi khác, tô phở rất ít bánh và thịt, cũng không có màu xanh của rau húng quế, hoặc màu trắng ngần của những cọng giá, chỉ có ớt quả và chanh. Đặc biệt hơn nữa, sau khi ăn tô phở được uống chè tươi, ôi thôi tuyệt vời. Mùi chè xanh thơm thoang thoảng, màu nước chè cũng hấp dẫn không kém. Cầm ly nước chè trong tay  gợi lại cho tôi những ngày còn ấu thơ. Ngày đó theo me tôi về quê, bước chân trên con đường đất gặp ghềnh, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt rồi được dừng lại hàng nước chè đầu cỗng làng uống chén (bát) chè tươi nóng, thơm phức mùi gừng. Chè tươi không uống trong ly, mà lại uống trong chiếc chén (bát), hai tay bưng chén nước chè kèm theo mấy cây kẹo cau...ôi thật thần tiên.    

Bước ra khỏi quán phở, đồng hồ chỉ đúng bảy giờ sáng. Không còn chần chờ, chúng tôi lên xe khởi hành đi Lạng Sơn như đã có trong chương trình.

Đêm qua trước khi đi Lạng Sơn, anh chị B.S.T mời vợ chồng tôi đến nhà dùng cơm chiều cùng gia đình. Trong bữa cơm có cô cháu của anh chị T. ngồi cùng bàn cho biết con đường lên đến Lạng Sơn khúc khủyu và khó đi. Nghe cô cháu diễn tả về đường núi, H. ngồi yên cười không hề nao núng, nhưng riêng phần tôi hơi rờn rợn, bởi lẽ cách đây hai năm khi về đến Đà Nẵng, chúng tôi viếng thăm núi Bà Nà. Con đường núi thật khúc khuỷu eo nghiệt, lắm lúc tôi muốn nói ông tài xế xe quay trở về, nhưng cuối cùng tôi cũng cố bấm bụng đi cho đến nơi. Sau lần viếng thăm đó đường lên núi rừng dường như vẫn còn nhiều ấn tượng trong đầu không mấy dễ chịu, khiến tôi hơi...chồn chân.

Trên con đường về lại khách sạn, tôi vẫn còn phân vân chưa biết muốn đi hay ở lại Hà Nội. May sao người lái xe cho anh B.S.T. kể chuyện Hà Nội và câu chuyện lái sang chuyện đi Lạng Sơn, anh ta cho biết tuần nào anh cũng lái xe lên Lạng Sơn. Như bắt được vàng, tôi hỏi con đường lên núi có khó lắm không như cô cháu gái của anh T. kể, anh ta lắc đầu cười:

-Cháu đi mỗi tuần, đôi khi còn nhiều hơn nữa. Đường dạo sau này được sửa sang lại, đi thoải mái không có gì cô lo.

Nghe anh ta nói, tôi thấy vững tâm hơn. Về đến khách sạn, H. gọi điện thoại cuộc viếng thăm Lạng Sơn sẽ tiến hành đúng 6 giờ sáng mai, giờ khởi hành như trong chương trình.

Có đi như vậy mới thấy được nhiều cảnh đẹp của quê hương. Con đường dẫn đến tỉnh Lạng Sơn là những con đường ngoằn nghoèo núi rừng. Đoạn đường từ Hà Nội đến Lạng Sơn khoảng 154 km, hướng Đông-Bắc của Việt Nam. Lạng Sơn cách tỉnh Quảng Tây- Trung Quốc 253 km. Diện tích tỉnh Lạng Sơn rộng chừng 8.331,24 km2, gồm 10 huyện và 1 thành phố. Dân số vào khoảng 76 ngàn người. Gồm 8 sắc tộc khác nhau, Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Cao Lan, H’Mông. Họ sống nơi đây từ nhiều năm qua, hàng ngày giao tế với người Việt nên nói tiếng Việt rất rành rỏi.

Xe chạy chừng vài cây số, màu trời càng lúc càng trong sáng, những đám mây xám đã xa bay. Nắng cũng bắt đầu tỏa xuống khắp vùng núi. Những ngọn núi thoai thoải nằm dọc theo con đường lên Lạng Sơn tô thêm vẻ đẹp của núi rừng.

Vừa qua khúc đường núi, ông lái xe chỉ cho chúng tôi thấy con đường nhỏ trên dốc, đó là con đường cũ trước đây. Đường thật eo hẹp nhưng phải chia làm hai bên, ngược dòng lên tỉnh Lạng Sơn và xuôi dòng về Hà Nội. Trước đây khi chưa làm con đường mới, nhiều đoạn đường xe phải nhường nhau, chẳng khác gì đường đèo Hải Vân từ Huế vào Đà Nẵng trước năm 75.

Trước khi lên Lạng Sơn, nghe anh bạn của H. nói sơ lược về tỉnh Lạng Sơn, tôi ao ước được nhìn thấy tượng đá nàng Tô Thị bồng con như đã được học trong những giờ Việt văn tự ngày còn trung học. Ngày đó, tôi chỉ biết có tượng đá nàng Tô Thị ở Bắc Việt. Tuy có nghe nói xứ Lạng nhưng thật ra nếu không đến Lạng Sơn tôi cũng không thể hình dung được xứ Lạng như trong:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có Nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

Tay cầm bầu rượu nắm nem

Mải vui quên hết lời em dặn dò.

 

(Nàng Tô thị)

(Chùa Tam Thanh)

Tôi thầm nghĩ trong lòng khi đến đó tôi sẽ bước chân nhìn tận mắt cho biết. Và theo như lời truyền thuyết, ngày xưa nàng Tô Thị bồng con đứng mong đợi chồng về quá lâu nên đã hóa thành tượng đá.

Lòng tôi cảm thấy bùi ngùi thương cho thân phận người phụ nữ Việt Nam. Tại Lạng Sơn vẫn còn tấm đá đứng trơ vơ giữa bầu trời bao la.

Sau khi chúng tôi tiếp xúc với Thứ Trưởng Ngọai Giao Vũ Dũng, người cầm đầu phái đoàn thương thuyết biên giới Việt-Trung và mong được tìm sự thật. Hơn thế nữa là người làm báo tại hải ngoại đã nghe nhiều dư luận khác nhau về vấn đề biên giới Việt-Trung, chúng tôi muốn hiểu rõ tường tận những nguồn tin cốt để đáp ứng đọc giả, nên quyết định tìm đến chốn. Mục đích đi Lạng Sơn của chúng tôi là muốn nhìn thấy tận mắt những cột mốc và hai cửa khẩu nên đoàn chúng tôi chỉ đến nơi điểm chính. Tiếc rằng không có đủ thời gian để thăm thêm nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú khác.

Trước khi đến tỉnh Lạng Sơn, xe chúng tôi chạy ngang qua Ải Chi Lăng. Tính từ Hà Nội chạy thẳng đến Chi Lăng độ khoảng 110 km. Đã là người Việt Nam, thì không thể nào quên lịch sử một Ải Chi Lăng và các cuộc đấu tranh chống lại các triều đại phong kiến Trung Quốc, luôn luôn có ý đồ muốn xâm lược nước ta. Chi Lăng nằm trong lòng chảo phía Nam tỉnh Lạng Sơn. Bao bọc Chi Lăng bởi hai dãy núi đá Kai Kinh và Bảo Đài- Thái Hòa. Nhìn lên hai đầu ải là những ngọn núi đá cao chót vót, dưới kia là giòng sông Thương ngoằn nghoèo chảy dọc theo thung lủng. Địa thế hiểm trở, cho nên nơi này ngày xưa khi quân Tàu đến xâm lặng nước ta đã học được những bài học thật đích đáng. Một Ải Chi Lăng, nơi đáng ghi nhớ muôn đời để mãi mãi hãnh diện ông cha ta đã đánh đuổi giặt Tàu ra khỏi bờ cõi Việt Nam và chúng ta cũng cần phải giữ lấy những hãnh diện đó để mai sau nếu giả như giặc Tàu lại đến quấy phá Việt Nam, hy vọng người người đồng lòng đứng lên để phất mạnh lại ngọn cờ Chi Lăng, lập lại thêm một trang sử mới như trước kia:

(Ải Chi Lăng)

-Cuối năm 1427, ngày 10 tháng 10 quân chủ lực của nhà Minh do An Viễn hầu Liễu Thăng hùng hổ chỉ huy gần 10 vạn quân ào ào kéo sang nước ta hầu mong dẹp được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Lê Lợi đã phái Tướng Lê Sát dẫn các tướng và quân lên đón đường, đặt quân mai phục. Tướng Trần Lựu sau vài trận giả vờ thua dụ Liễu Thăng lọt vào ổ phục kích tại núi Mã Yên. Quân Lam Sơn do Lê Sát chỉ huy, đổ ra chém đầu Liễu Thăng, khiến tàn quân hoang mang với tinh thần suy sụp, mất sức chiến đấu nên bị bắt sống toàn bộ ở Xương Giang.

Vào những năm trước và sau công nguyên, lịch sử đã chọn Ải Chi Lăng như một địa danh đặc biệt gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống sự xâm lược của Trung Quốc.  Ngày nay, khu di tích lịch sử và tượng đài kỷ niệm Chi Lăng đã được xây tượng đài chiến thắng khoảng vào năm 1982 để nhắc nhỡ con cháu chúng ta luôn nhớ đến, đừng quên đi bài học ngày nao. Ải Chi Lăng vừa là di tíùch lịch sử, núi rừng lại hùng vĩ khiến mọi người trong đoàn chúng tôi cảm thấy lòng nao nao và thầm cám ơn những vị anh hùng dân tộc nước Nam.

Chúng tôi đây, thế hệ nối tiếp cũng phải ngước mặt hãnh diện được làm người Việt Nam, được nối tiếp làm con cháu của các tiền nhân đã lắm lần hy sinh chống ngoại bang.

Xe chạy hơn hai tiếng đồng hồ, chúng tôi đến tỉnh Lạng Sơn đúng 10 giớ sáng. Thật cám ơn thời tiết tại nơi này, gió mát và nắng trong nên ai ai cũng phấn khởi. Cũng nhờ anh lái xe là người Lạng Sơn quen thuộc đường ngõ tại đây, nên cuộc hành trình không vất vã. Anh lớn lên và sinh sống ở Lạng Sơn. Anh còn nói, sống trên này đã quá quen, nên mỗi lần đi Hà   Nội vài hôm nhớ Lạng Sơn ngay. Thế mới biết “ở mô quen nấy” không một ai muốn rời bỏ chỗ chôn nhau cắt rốn của mình cả. Nếu có chăng, cũng chỉ vì hoàn cảnh mà thôi.

Anh dừng xe ngay chợ tỉnh cho chúng tôi co dãn đôi chân trước khi lên biên giới. Anh tiếc là đoàn chúng tôi lên Lạng Sơn hơi sớm, dân chúng trong tỉnh còn nghỉ tết nên hơi vắng vẻ. Nếu chờ thêm vài ngày nữa, khi chợ búa họp đầy đủ, quang cảnh nhộn nhịp kẻ mua người bán khá vui mắt. Anh cũng cho biết thêm, hàng hóa nơi này hầu như hàng từ Trung Quốc đưa qua từ biên giới. Hàng tiêu thụ rất chạy mà giá lại rẻ. Không hẳn hàng hóa như áo quần dày dép, mà còn cả rau quả nữa. Nên người mua khó có thể phân biệt hàng nào của mình (Việt) hoặc hàng nào của Tàu.

Rồi cả đoàn lại lên xe, trực chỉ tiến về biên giới. Gần đến thị trấn Đồng Đăng, chúng tôi thấy con đường chia làm hai ngả: ngả lên cửa khẩu Đồng Đăng và cửa khẩu Hữu Nghị, ngả kia lên chợ biên giới Tân Thanh. Cả hai ngả mặt đường đều được mở rộng. 

Từ câu chuyện này bắt qua câu chuyện nọ, xe đến cửa khẩu Hữu Nghị lúc nào không hay. Chúng tôi nao nức bước xuống xe, lòng thúc dục khi nhìn lên phía trước. Biên giới là đây. Sau khi làm một vài thủ tục nhỏ, người lính biên phòng đón chúng tôi bằng nụ cười. Anh đưa đoàn chúng tôi lên tận cột cấm mốc của hai bên Việt-Trung.

ược biết, tại cửa khẩu Hữu Nghị mỗi ngày có hàng trăm chiếc xe mang tấm biển kiểm soát Việt-Trung lo thủ tục giao nhận hàng xuất và nhập khẩu qua biên giới. Hàng từ Trung Quốc nhập vào Lạng Sơn đủ mọi thứ, dày dép, áo quần, mền chiếu. Chủ yếu là máy móc hiện nay rất được yêu thích tại Việt Nam. Kể cả xe gắn máy cũng được người dân Việt Nam mua dùng nhiều, vì giá rẻ hơn so với xe của Nhậït. Giá xe Trung Quốc thì rẻ hơn và dễ dàng cho túi tiền người tiêu thụ, tuy nhiên tôi lại không nghĩ máy xe bền như xe của Nhật bản. Còn riêng về Việt Nam xuất khẩu sang Tàu phần nhiều là hải sản và những thứ linh tinh khác. 

Bên lề biên giới, tôi lặng yên đứng nhìn người qua lại hai bên, người người gói xách đùm đề, va-li trên tay. Không hiểu họ đã mua được những gì bên kia, nhưng nhìn khuôn mặt mỗi người hớn hở, thích thú. Có lẽ đây cũng là một lần xuất ngoại của họ chăng?

Ngăn chia biên giới chỉ một đường kẻ nhỏ không khác gì sợi tơ, nhưng sao những đôi mắt nhìn nhau nặng như cả ngàn cân. Đường biên giới được làm bằng gạch sắt để phân chia đôi bên. Bên mình phía Nam nước Việt dưới mặt đường trống trơ, nếu anh lính biên phòng không nói và chỉ cho chúng tôi biết, có lẽ tôi đã dẫm lên và đi qua bên kia biên giới mà không hay. Ở dưới mặt đường, lằn ranh của Trung Quốc có hàng chữ Tàu. Tôi quên mất hỏi đó hàng chữ có ý nghĩa gì. Đứng bên này cột mốc của Việt Nam, dường như không phải chỉ riêng mình tôi mà cả đoàn chúng tôi thấy lòng mình rưng rưng cảm động muốn khóc. Lên tận biên giới Lạng Sơn, nhìn quang cảnh nơi địa đầu giới tuyến này mới thấy lòng yêu nước nổi lên dữ dội, ở đây mỗi tất đất là một tất vàng. Dĩ nhiên tôi là phụ nữ, khó có thể che dấu nổi lòng mình, có lẽ lúc đó vẻ mặt của tôi khó coi lắm, vì lúc nào cũng mêu mếu, nước mắt rươm rướm.

Đi bên cạnh người lính biên phòng, tôi hỏi khoảng bao lâu anh mới được về Hà Nội. Anh cho biết đơn vị đóng quân ở Lạng Sơn cũng khá lâu. Lúc nào được lệnh mới về thăm nhà. Vui miệng tôi hỏi hai bên Việt-Trung, biên giới sát nhau chỉ một vài bước, có khi nào chuyện trò với nhau không. Anh ta nghiêm nghị nói, ai làm phận sự nấy, có đôi lúc cũng căng lắm, nhưng chỉ nhìn nhau và gườm nhau mà thôi. Còn trò chuyện như tôi và chị ít có xảy ra.

Đặc biệt hơn nữa, những dãy núi trùng trùng bao quanh nơi biên giới, không phải thuộc về một bên, không như tôi đã nghĩ. Biên giới phân chia ranh giới không những dưới đất liền, mà ngay cả núi non nữa. Trên mỗi đỉnh núi, đường phân chia cũng như dưới đất, nghĩa là núi bên này là của ta, bên kia núi là của Tàu. Nhưng lính Trung Quốc ỷ họ mạnh hơn, nên bên dưới chân núi của Việt Nam, đồng bào mình dẫy cỏ trồng bắp, đến đêm giặt Tàu từ bên kia núi lén xuống tìm cách nhổ hết. Tệ hơn nữa, họ bắn sẻ những người dân Việt nếu cố tình trèo lên ngọn núi, chưa tới đỉnh núi như trong lằn phân chia. Như thế, mới biết lúc nào kẻ mạnh cũng ỷ lại sức của họ. Tôi còn nhớ, năm 1979 khi Việt-Trung xích mích lòng nhau, Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng: “Sẽ dạy cho Việt Nam một bài học”. Đúng là câu nói hồ đồ của kẻ ỷ mình sức mạnh. Thật ra bất cứ cuộc chiến nào xảy ra, hai bên đọ sức nhau, dĩ nhiên không nhiều thì ít cũng đều có những người lính chiến đấu phải hy sinh. Có nhiều câu chuyện đánh nhau giữa hai bên khá lý thú, nhưng tôi chưa ....rõ nên không dám viết lên, vì chỉ nghe kể chứ không có tài liệu ghi lại. Đi lại chuyện Việt Nam tuy yếu thế, quân lại ít nhưng biết dùng mưu lược, phía lính Trung Quốc ỷ mạnh tràn qua biên giới khá đông, nhưng số binh lính không mấy rành địa thế Việt Nam nên số tử thương cũng không phải là ít.

Ở đây, chúng tôi được nhìn tận mắt những cột mốc chia ranh giới Việt-Trung. Những cột mốc vừa mới hoàn thành, nên lớp xi măng vẫn còn một màu trắng của đá chưa nhuốm mưa gió sương của núi rừng. Cứ mỗi cột mốc, phía bên này là của Việt Nam, xây lại sau lưng của cột mốc là của Trung Quốc.

(Cửa khẩu Tân Thanh)

Sau vài tiếng đồng hồ chiêm ngưỡng núi rừng Lạng Sơn, chụp vài tấm hình kỷ niệm chúng tôi cám ơn người lính biên phòng, lên xe tiếp tục con đường hành trình đến cửa khẩu Tân Thanh.

Tân Thanh một ngày lặng lẽ..

Tết đã đi qua hơn năm hôm rồi, nhưng người dân ở Lạng Sơn vẫn còn nhẩn nha đâu đó, cho nên buổi chợ trong ngày vẫn vắng hoe người. Anh lái xe cứ chép miệng, tiếc thay cho chúng tôi. Anh còn nói: nếu là ngày thường, quang cảnh ở đây đúng như trong câu:

... Mãi vui quên hết lời em dặn dò

ạ!

Tôi nhìn anh ta cười:

-Nếu có dịp, chúng tôi sẽ lên thăm lại Lạng Sơn. Còn quá nhiều nơi chúng tôi chưa đến.

Anh hứa với đoàn chúng tôi lần sau, anh sẽ đãi chúng tôi những món ăn rất ư địa phương tại Lạng Sơn, khó có thể tìm thấy các nơi khác.  

Xe chạy một thoáng đã tới cửa khẩu Tân Thanh. Bầu trời tuyệt đẹp, nắng lên cao trên đầu, gió từ miền núi rừng thổi đến se se lạnh. Giá gì có thêm ly cà phê nóng trong tay, có lẽ không có gì tuyệt hơn. Tôi thầm nghĩ.

Khu chợ Tân Thanh nơi biên giới.

Chợ Tân Thanh là khu chợ lớn nhất trong các chợ ở dọc biên giới. So với các cửa khẩu khác thì hàng hóa ở đây được đưa ra gần biên giới hơn, người dân của hai nước đều được tựï do đi lại, mua bán. Đối diện chợ Tân Thanh là khu chợ Pò Chài của Trung Quốc. Nhìn khu chợ Tân Thanh nhỏ bao nhiêu thì khu chợ Pò Chài lớn bấy nhiêu. Chợ Pò Chài được xây cất khoảng độ chín năm nay và được xử dụng đầu năm 2000. Phải nói là lối kiến trúc người Tàu rất đẹp mắt. Từ thành phố lớn như Bắc Kinh cho đến Thượng Hải và ngay cả khu chợ ở biên giới, tòa nhà thương mãi của họ trông thật đồ sộ. Nhưng khi quay lại nhìn cột mốc lần đầu tiên phân chia biên giới thật sự rõ ràng bằng đôi mắt của mình, tôi và H. cảm thấy chuyến đi Lạng Sơn là một sự quyết định chính đáng và đầy ấn tượng.

Không nhớ rõ chúng tôi đứng ở nơi này bao lâu, những đôi mắt  chăm chú nhìn quang cảnh trước mắt, tuy không nói nhưng trong vẻ mặt của mỗi người đều có mỗi sự suy nghĩ rất riêng, tôi chắc chắn rằng tất cả trong đoàn chúng tôi đều cùng chung một mẫu số là tìm đến Lạng Sơn bởi tấm lòng, tấm lòng yêu quê hương và nước Việt luôn luôn mong cho đất nước yên bình. Và nếu cần, dân tộc chúng ta từ quốc nội đến hải ngoại sẵn sàng nắm tay nhau để bảo vệ tất đất của cha ông để lại.

Cám ơn Lạng Sơn, đã một lần cho tôi biết đến nơi địa đầu tổ quốc.

            Quách Y Lành

 

     

 
 

     Trang chính
     Tham luận
     Văn hóa
     Khoa học
     Y học
     Xã hội
     Truyện dài
     Tử vi
     Các tin khác
     Tạp ghi
 
 Copyright © 2004, Dan Quyen Newspaper, All rights reserved.