|
(Bài của Học giả
Frederick Brown,
Đại học Johns Hopkins - Hoa Kỳ, gởi ban Việt Ngữ
BBC)
Chuyến viếng thăm Washington của Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn
Dũng, từ ngày 23-25 tháng Sáu vừa qua, đã đánh dấu thêm một mốc
chính trị trong việc hàn gắn mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ đang
diễn ra.

30 năm trước, ít ai nghĩ một thủ tướng Cộng sản Việt Nam sẽ thăm
Mỹ trong sự thân thiện
Thử hồi tưởng lại cuộc chiến nhiều đau
khổ, và kết cục cay đắng của Đông Dương năm 1975 đối với Chính
quyền Sài Gòn và những người miền Nam Việt Nam từng được Hoa Kỳ
hậu thuẫn.
Là một người Mỹ từng phục vụ một số năm
tại Việt Nam, thật khó cho tôi hình dung khoảnh khắc sau này khi
một tổng thống Hoa Kỳ nói với lãnh đạo quốc gia cộng sản Việt
Nam thống nhất rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ "chủ quyền, an ninh và toàn
vẹn lãnh thổ của Việt Nam."
Đây không phải là một sự lỡ mồm của Tổng
thống George W. Bush, mà là một lời khẳng định có chủ ý đã được
tính toán cho những bước đi kế tiếp trong chính sách của Hoa Kỳ.
Đối với ông Nguyễn Tấn Dũng, đây là một
sự thừa nhận của Mỹ đầy tính hoan nghênh - thực tế là cấp thiết
- trước sự mở cửa chiến lược được tính toán cẩn thận của Việt
Nam với Hoa Kỳ.
Chuyến thăm trở nên khẩn thiết vì sự sa
sút kinh tế trầm trọng của Việt Nam.
Hòa giải
Sự hàn gắn, hay bình thường hoá, quan hệ
Việt - Mỹ đã chưa bao giờ có một đích đến nghiễm nhiên.
Nhiều năm sau năm 1975, đã từng xuất
hiện và duy trì một sự đối nghịch rộng lớn giữa hai bên đi kèm
với một lòng thù hận sâu sắc về mặt ý thức hệ.
Đối với những viên chức Hoa Kỳ như bản
thân tôi, cuộc chiến Việt Nam là một phần của một cuộc tranh đấu
chống chủ nghĩa cộng sản trong thời kỳ chiến tranh lạnh với sự
phân biệt rõ ràng "địch - ta".
Vào năm 1978, đã có một nỗ lực trong
thời gian ngắn nhằm bình thường hoá quan hệ song phương trong
nhiệm kỳ của Chính phủ Carter.
Đây là giai đoạn Việt Nam xâm lấn
Campuchia, còn Hoa Kỳ đã bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc.
Sau năm 1991, các quan hệ song phương đã
được cải thiện với việc Việt Nam tham gia vào việc tái thiết lập
nền chính trị ở Cam-pu-chia và sự hợp tác của Hà Nội với
Washington trong việc tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong
cuộc chiến.
Cùng với việc thể chế Liên Xô tan vỡ và
rơi vào "sọt rác" của lịch sử, Việt Nam đã có rất ít sự lựa chọn
và phải thừa nhận vào thời điểm đó rằng Hoa Kỳ là siêu cường duy
nhất của thế giới.
Việt Nam đồng thời tiến tới việc xem xét
các lợi ích quốc gia sẽ được hưởng lợi ra sao từ việc cải thiện
tốt hơn các mối quan hệ kinh tế và chiến lược với Trung Quốc.
Trong những năm gần đây, chủ đề trung
tâm trong chính sách đối ngoại "đa phương" của Việt Nam là việc
cân nhắc cẩn trọng việc mở rộng và cải thiện các mối quan hệ với
Hoa Kỳ.
Còn ở trong khu vực, thể chế cộng sản
Việt Nam không còn được coi là một lực lượng xung kích tiến tới
mục tiêu gây ra sự "chuyển đổi xã hội chủ nghĩa" ở khu vực Đông
Nam Á, như một số quốc gia từng quan ngại vào năm 1975.
Vì sao Mỹ quan tâm Việt Nam?
Vậy thì vì sao vào năm 2008, chúng ta,
Hoa Kỳ lại quan tâm tới những gì đang xảy ra ở Việt Nam?
Với tôi, có một lý giải thuyết phục ủng
hộ cho quan hệ song phương tiếp tục hướng về trước.
Nhưng đồng thời, chúng tôi - Hoa Kỳ, cần
phải đối diện một cách khách quan và bình thản trước một số câu
hỏi khó được đặt ra.
Trước hết, đó là chúng ta có thể chờ đợi
gì một cách thực tiễn từ mối quan hệ hữu hảo giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ? Điểm mạnh và điểm yếu ở đây là gì?
Đâu là biến số có thể có và đâu là ảo
tưởng từ quan hệ này? Ngoài ra, Trung Quốc, luôn luôn là Trung
Quốc, liệu cuối cùng Vương quốc này có thể có vai trò thống trị
gì không?
Các lợi ích kinh tế, thương mại đã và
luôn là các chất xúc tác thúc đẩy các quan hệ song phương.
Các hãng Boeing, Caterpillar, Microsoft,
Citibank và các ngân hàng quốc tế cùng các nhà đầu tư quốc tế
khác đã gây sức ép đối với quốc hội và nhiều chính phủ kế tiếp
nhau từ những năm thuộc thập niên 1980 và 1990.
Những áp lực này nhằm vào việc Chính phủ
khai mở một thị trường mới ở khiêm tốn song có tiềm năng sinh
lợi ở Á Châu.
Và một diễn biến chủ chốt là quyết định
của Việt Nam vào năm 1986 nhằm vứt bỏ chủ nghĩa Mác theo hướng
có lợi cho một nền kinh tế thị trường tự do.
Sự kiện này được biết tới với tên gọi
chính sách 'Đổi mới' nổi tiếng.
Vào năm 2001, Hiệp định Thương mại song
phương Mỹ -Việt mở đường cho một sự gia tăng nhanh chóng mậu
dịch hai chiều.
Hoa Kỳ đã rút tên Việt Nam ra khỏi danh
sách "các quốc gia cần quan tâm đặc biệt - CPC" và chấp thuận
trao cho Việt Nam quy chế quan hệ mậu dịch bình thường vĩnh viễn
(PNTR) vào năm 2006.
Năm 2007, Việt Nam đã gia nhập vào Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) với sự đồng ý của Hoa Kỳ.
Vào cuối năm 2007, mậu dịch hai chiều đã
đạt con số 12 tỉ MK (so với mức 222 triệu MK năm 1994.)
Cán cân thanh toán mậu dịch đã được duy
trì thiên về hướng có lợi cho Việt Nam (với khoảng 8 tỉ MK giá
trị xuất khẩu vào Hoa Kỳ.)
Về mặt đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), Hoa Kỳ đứng trong nhóm 10 nước đầu tư hàng đầu ở Việt
Nam.
Hoa Kỳ cũng là một trong ba quốc gia đầu
tư lớn nhất nếu tính toán tới nguồn đầu tư của Mỹ thông qua các
công ty Hoa Kỳ ở quốc gia thứ ba tại Singapore hay Thái Lan.
Việt Nam, từng được ví như "con hổ tiếp
theo của Châu Á" đang gặp phải các vấn đề nhức nhối.
Thách thức
Trong khi một số thành tích về kinh tế
từng tỏ ra ấn tượng, thì nhiều biến đổi tích cực khác đã không
được thực hiện.
Nạn tham nhũng đã ăn sâu trong hệ thống
và đảng cộng sản tự thân chính là thủ phạm nằm ở trung tâm của
vấn đề.
Nếu Việt Nam tiếp tục mô hình tăng
trưởng hiện nay, cũng mất ít nhất 20 năm nữa mới đạt được mực độ
như mặt bằng kinh tế hiện tại của Thái Lan.
Lạm phát của Việt Nam tăng rất cao và
đang diễn biến ở mức trên 20%. Chỉ số giá tiêu thụ cũng tăng vọt
trong khi thị trường chứng khoán thì đang rớt điểm trầm trọng.
Chỉ số chứng khoán ở thị trường sơ khai
này hiện có giá trị chỉ bằng phân nửa giá trị của nó vào tháng
12/2007.
Vì Việt Nam dựa vào thị trường xuất khẩu
sang Hoa Kỳ, chẳng hạn với các mặt hàng may mặc và giày dép, khi
thị trường này cùng các thị trường toàn cầu ở nơi khác có biến
động, khả năng nền kinh tế Việt Nam duy trì mức độ tăng trưởng
của nó đã bị phá huỷ.
Tất cả những vấn đề này đã đặt ra những
thách thức to lớn đối với Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng.
Tiếp tục hỗ trợ kinh tế của Mỹ dành cho
Việt Nam là thành tố thiết yếu trong mối quan hệ song phương.
Chương trình USAID là một trong những hoạt động lớn nhất ở châu
Á.
Tổ chức này cung cấp 90 triệu đôla năm
2007. Gần 100 triệu nữa đã được yêu cầu cho năm 2009.
Trợ giúp sức khỏe cho HIV/AIDS và các
chương trình nhân đạo chiếm hơn ba phần tư của số tiền.
Một nỗ lực rất quan trọng (và tương đối
ít được để ý) từ năm 2001 là "hỗ trợ thúc đẩy thương mại và cải
tổ" (STAR) của USAID.
Chương trình giúp chính phủ Việt Nam
thiết lập khung quản lý vững chắc cho nền kinh tế thị trường.
Sau yêu cầu từ chính Văn phòng Thủ
tướng, STAR làm việc với chừng 50 bộ, cơ quan, ủy ban Quốc hội
để tiến hành cải cách luật pháp và chính sách lien quan thương
mại, đầu tư, Hiệp định BTA 2001, và việc Việt Nam gia nhập WTO.
Tác động cụ thể đến mức trung và thấp
hơn trong cơ cấu hành chính Việt Nam tỏ ra rõ rệt và quan trọng.
Không phải dễ để có sự chấp nhận vai trò
chủ động của Mỹ theo cách gần gũi như thế.
STAR là ví dụ tốt nhất chứng tỏ khi giải
quyết những vấn đề cả hai phía cùng quan tâm, theo hình thức
chuyên nghiệp, không phô trương, sẽ tạo ra được sự tin tưởng
thực sự giữa chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ.
Dĩ nhiên một số người trong Đảng Cộng
sản vẫn cảm thấy bị "diễn biến hòa bình" đe dọa, mặc dù nó đang
diễn ra xung quanh họ qua hàng loạt giao tiếp thường ngày với
thế giới phương Tây, qua những đổi thay trong hệ thống giáo dục
khiếm khuyết của Việt Nam.
Hai nước chúng ta có hệ thống chính trị
khác biệt căn bản và có vị trí khác nhau trên vũ đài quốc tế.
Đồng ý có khác biệt
Chúng ta đồng ý có khác biệt về nhiều
vấn đề quốc tế - Iraq, Iran, và Miến Điện.
Việt Nam giao thiệp với những chính thể
ghét Mỹ (Cuba, Iran, Venezuela, Bắc Hàn) và chào đón những
chuyến thăm nhà nước của lãnh đạo các nước này.
Sự quan tâm nhân quyền và tự do tôn giáo
của Mỹ là nguồn cơn mâu thuẫn chủ yếu, đặc biệt trong các dân
biểu Mỹ có cộng đồng lớn người Mỹ gốc Việt.
Họ cố gắng – đến nay chưa thành – giữ
quan hệ song phương trở thành con tin của cái mà cho rằng hồ sơ
tồi tệ của Việt Nam.
Trong mấy năm gần đây, ở mỗi phiên họp
của Quốc hội Mỹ đều đưa ra dự luật trừng phạt Việt Nam vì cáo
giác vi phạm nhân quyền.
Đến nay những luật như thế thất bại,
trước hết, vì chính phủ Bush xem Việt Nam có cải thiện dần dần (ít
nhất là so với các nước trong danh sách CPC như Ai Cập,
Pakistan, Saudi Arabia, và Iraq).
Và thứ hai, vì cộng đồng doanh nghiệp Mỹ
vẫn xem kinh tế đang phát triển của Việt Nam là mảnh đất màu mỡ
cho buôn bán, đầu tư bất chấp những khó khăn gần đây.
Việt Nam đã nêu vấn đề bồi thường cho
các nạn nhân Chất Da cam, chất diệt cỏ Mỹ sử dụng trong cuộc
chiến mà Việt Nam nói là đã và vẫn đang làm hại hàng triệu người
Việt.
Đây là một trong những "vấn đề di sản"
nghiêm trọng và khó giải nhất trong quan hệ song phương.
Một ủy ban song phương, tư nhân, với hỗ
trợ của Quỹ Ford và sự hợp tác của quốc hội và chính phủ Mỹ, đã
được thành lập cho vấn đề này. Việt Nam cũng phê phán Mỹ là
không đủ nỗ lực ngăn chặn những người Mỹ mà theo Việt Nam là
đang kích động bất ổn ở Cao nguyên Trung phần.
Quan hệ chiến lược tay ba
Vậy, cần phải làm những gì? Không khó
khăn nào được nhắc ở trên ngăn cản bước tiến vững chắc trong
quan hệ song phương.
Hành động tích cực của Mỹ và những phản
ứng quanh Chất Da cam và STAR, cùng sự tiếp tục hợp tác tốt của
Việt Nam về vấn đề MIA, tỏ ra hiệu quả.
Mặc dù thương mại và "quyền lợi chiến
lược" là lực đẩy, quan hệ song phương đã lấn sang nhiều khía
cạnh và hoạt động khác. Chính thức mà nói, tiền gửi về của người
Mỹ gốc Việt mỗi năm đã là hơn hai tỉ đôla.
Mỗi năm, Quỹ Giáo dục Việt Nam đưa nhiều
sinh viên sang đại học Mỹ để học cao học và tiến sĩ trong các
ngành cứng: kỹ sư, công nghệ thông tin và y khoa.
Tuyên bố chung của ông Bush – Dũng cho
hay sẽ thành lập "nhóm Đặc trách Giáo dục cấp cao song phương để
thảo lộ trình và nhận diện các thể thức hiệu quả cho việc nâng
cao vấn đề hợp tác giáo dục".
Điều này có thể đem lại thực chất và
chiều sâu cho mối quan hệ về lâu dài.
Có những bất đồng nhà nước không giảm
giữa Việt Nam và Trung Quốc về Biển Nam Trung Hoa (hay Biển Đông)
cũng như trong quan hệ thương mại và các vấn đề thực tiễn.
Nhưng quan hệ giữa hai đảng cộng sản thì
thân mật. Hai chính phủ mạnh mẽ phản đối "đa đảng" và bất kỳ
điều chỉnh nào đối với sự độc quyền chính trị của đảng.
Quanh các vấn đề xa xôi ấy mà chúng tôi
gọi là "chiến lược", Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ có vẻ đã
bước vào mối quan hệ chiến lược tay ba.
Người Việt có câu "Nước xa không cứu
được lửa gần". Hoa Kỳ cách nửa vòng trái đất – Trung Quốc thì
ngay nơi biên giới phía bắc.
Đồng thời, không phía nào muốn có xung
đột hủy diệt vì tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa (đường
đi của đa số nguồn cung cấp dầu của Trung Quốc).
Đây là vấn đề làm Việt Nam mất lòng nhất,
và là lĩnh vực cả Hà Nội cùng Washington phải rất tinh tế.
Thông cáo chung sau chuyến thăm của ông
Nguyễn Tấn Dũng ghi nhận nhu cầu "củng cố đối thoại cấp cao" và
ủng hộ "thành lập các cuộc họp hoạnh định chính sách và chính
trị quốc phòng để có các trao đổi thường xuyên và sâu hơn về các
vấn đề chiến lược và an ninh".
Các đối thoại được đề xuất có thể thúc
đẩy mối quan hệ an ninh.
Cả hai nước nhận thức rõ đòi hỏi tiến
hành thế nào mà không làm Trung Quốc tin rằng Việt Nam là một
phần trong "âm mưu" Mỹ - Việt đe dọa an ninh quốc gia của Trung
Quốc.
Như lời của một nhà ngoại giao cao cấp
Việt Nam, "Đây là quyền lợi tối quan trọng của việt Nam: một môi
trường hòa bình để phát triển kinh tế. Nếu sự sắp xếp nằm trong
quan hệ chiến lược của cả Việt Nam và Mỹ, chúng tôi sẽ đi theo.
Nếu Mỹ nói, 'các anh hoặc theo hoặc chống chúng tôi', thì chúng
tôi sẽ không đi đâu."
Cần nhớ rằng Việt Nam có hai ngàn năm
đối phó với Trung Quốc – nước này là bậc thầy của “chính trị bất
cân xứng” (mượn tựa đề cuốn sách gần đây của sử gia Brantly
Womack).
Theo ông Womack, mặc dù Trung Quốc rõ
ràng mạnh hơn Việt Nam nhiều, nhưng họ không thể dễ dàng ép Việt
Nam làm điều họ muốn đơn giản bởi vì động cơ sống còn của Việt
Nam chắc chắn mạnh hơn động cơ thống trị của Trung Quốc.
Quan hệ ngày càng phức tạp và lan
rộng sang nhiều lĩnh vực trong quan hệ song phương
Mỹ-Việt hiện đang tạo vị thế mạnh hơn cho Hà Nội chừng
nào không bên nào cứ kỳ vọng quá mức vào khả năng thực
tế bên kia đáp ứng được.
Chính vì lợi ích
của mình mà Hoa Kỳ tiếp tục bồi đắp một cách từ tốn
và thận trọng mối giao hữu 'trong ấm ngoài lạnh' và tỏ
ra tự hào với cách chơi đó. |