|
Câu
chuyện về họ được ghi theo lời kể của một người trong cuộc, ông
Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam tại Đại học
Harvard, người cũng thường được gọi là "ông Fulbright Việt Nam",
"kiến trúc sư trưởng của Quỹ VEF", cha đẻ của mối hợp tác giáo
dục Việt Nam - Hoa Kỳ.
Năm
2000, trong chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của một nguyên thủ
quốc gia tới Việt Nam, phát biểu trước hàng nghìn sinh viên Việt
Nam, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton từng nhấn mạnh "Hệ quả
của cuộc chiến là 3 triệu cựu chiến binh Mỹ đã tham chiến tại
Việt Nam, cũng như nhiều nhà báo, nhân viên tòa đại sứ, nhân
viên yểm trợ và những người Mỹ khác sẽ mãi mãi liên hệ với quê
hương của các bạn - Việt Nam".
Những cựu chiến binh chính là những người nối nhịp đầu tiên tái
lập liên lạc giữa hai nước. Tại Mỹ, một nhóm nghị sĩ có nhiều
điểm khác nhau, trong quá khứ và hiện tại nhưng cùng chia sẻ mối
quan tâm chung tới Việt Nam. Họ chính là thế hệ nghị sĩ Mỹ của
những năm 1990, những người có nguồn gốc, hoàn cảnh khác nhau,
tham gia các đảng phái chính trị đối lập nhưng cùng có mối dây
kết nối với Việt
Nam.
Thượng nghị sĩ (TNS) Đảng Cộng hoà John McCain đã từng trải
nghiệm 6 năm tù tại Hỏa Lò, Hà Nội sau khi máy bay của ông bị
bắn rơi ven hồ Trúc Bạch năm 1969. Trong khi đó, TNS John Kerry,
một luật sư tài năng từng đi lính tại Việt Nam và đã bị thương.
Còn
TNS Bob Kerry, hiện là Hiệu trưởng trường Đại học New School (nơi đăng
cai bàn tròn giáo dục Việt - Mỹ khi Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết thăm Mỹ năm 2007) thì suốt đời bị ám ảnh bởi cuộc thảm sát
đêm 25/2/1969 tại làng Thạnh Phong, Thạnh Phú, Bến Tre khi là
chỉ huy đơn vị, nơi ông cùng đội quân của mình đã giết chết 25
người già và trẻ em chỉ trong một đêm. Các nghị sĩ Bob Smith,
Chuck Hagel... đều đã từng tham chiến tại Việt Nam. Ngay Phó
Tổng thống Mỹ Al Gore đã từng là phóng viên nhật báo của quân
đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam.
Bản
thân Thomas Vallely, nguyên là hạ nghị sĩ bang Massachusetts
trong 6 năm (1980 - 1987) đã từng có một năm tham gia đơn vị
thủy quân lục chiến đóng tại xã An Hòa, gần thánh địa Mỹ Sơn,
Quảng Nam.
Trở
về từ cuộc chiến, Thomas không bị ám ảnh nhiều về quãng thời
gian này. "Tôi còn quá trẻ và quá ngây thơ. Tôi đã chiến đấu
trong một cuộc chiến mà tôi hiểu quá ít về nó... Mãi sau này,
khi tôi hiểu được chương lịch sử đen tối đó, biết nhiều về Việt
Nam, tôi mới bắt đầu bị ám ảnh nhiều", Thomas cho biết.
Năm
1984, John Kerry ứng cử thượng nghị sĩ lần đầu tiên và Thomas
Vallely đã thật sự "nhúng mình" vào chiến dịch tranh cử của ông
này.
Với
họ, cuộc chiến tại Việt Nam là câu chuyện bi đát trong lịch sử
cá nhân và lịch sử quốc gia Mỹ. Họ mong muốn chấm dứt chương
lịch sử đen tối đó, Thomas Vallely nói.
Mối
liên hệ mang tính cá nhân và hết sức đặc biệt giữa từng nghị sĩ
này với Việt Nam đã lý giải tại sao ban đầu, TNS John McCain tỏ
thái độ thù địch với John Kerry, người đi đầu trong các hoạt
động phản chiến và tiến hành chiến dịch vận động tranh cử chống
lại ông ở Massachusetts nhưng sau đó tại Thượng viện, cả hai đã
cùng hợp tác trong nhiều vấn đề liên quan tới Việt Nam. Chính
hai TNS này đã thành lập một ekip ăn ý vận động cho tiến trình
bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam.
Cơ
hội bình thường hóa quan hệ hai nước đã từng bị bỏ lỡ vào cuối
thập kỷ 70 và bị chìm xuống trong nhiều năm. Mãi tới khi thế hệ
nghị sĩ trẻ này vào chính trường, nắm quyền lực, tiến trình bình
thường hóa quan hệ hai nước mới được đẩy mạnh trở lại.
Điều đáng tiếc là, "mỗi lần hai bên đạt một bước tiến, Chính phủ
Hoa Kỳ lại lùi một bước, đưa ra một đòi hỏi mới, một yêu cầu mới
buộc phía Việt Nam phải đáp ứng", Thomas cho biết.
Sau
này, với sự tham gia của Dân biểu Peterson vào ekip và việc bạn
học của John McCain tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ trở thành Tổng
tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, tiến trình này được
đẩy nhanh hơn.
Điều đáng mừng, như ông Thomas nói, ngay tại thời điểm ấy, những
người như nguyên thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Lê Mai và các
đồng sự đã chủ động nối lại liên lạc với phía Hoa Kỳ.
"Tôi luôn ở phía sau bảo vệ Tổng thống"
Cuối nhiệm kỳ Tổng thống của George Bush, một thỏa thuận chính
thức bình thường hóa quan hệ Việt
Nam
- Hoa Kỳ đã được đặt lên bàn Tổng thống chờ kí. Vào phút cuối,
Bush cha quyết định gác lại, không kí văn bản. Tổng thống Đảng
Cộng hòa được thay thế bởi đại diện của Đảng Dân chủ Bill
Clinton. "Cái khó" được người tiền nhiệm đảng Cộng hòa "phần"
lại cho Bill Cliton giải quyết.
"Đó
là trò chính trị đánh Bill Clinton của Bush cha. Bill Clinton
chưa từng tham chiến, nên ít nhiều sẽ gặp nhiều khó khăn trong
giải quyết vấn đề POW/MIA, khi đối diện với những gia đình thân
nhân quân sĩ Mỹ...", Thomas lí giải.
Hơn
ai hết, McCain hiểu rõ
Clinton
sẽ gặp nhiều khó khăn trong bình thường hoá, và một mình ông
không thể làm được. Trong khi đó, bản thân McCain là nhân vật có
tiếng nói, ảnh hưởng trong chính trường Mỹ đặc biệt trong vấn đề
Việt
Nam.
Ngay khi Bill Clinton lên nắm quyền, nhóm 3 người McCain, Kerry
và Pete Peterson đến gặp Bill Clinton. Dù ở hai đảng đối lập,
McCain nói với Bill Clinton: "Tôi sẽ sát cánh cùng ngài. Ngài cứ
tiến về phía trước (trong bình thường hoá bang giao Mỹ - VIệt),
khi ngài quay lại phía sau, ngài sẽ thấy tôi luôn ở phía sau bảo
vệ ngài".
Nhờ
cam kết ấy, lời hứa của thế hệ nghị sĩ Mỹ với Việt Nam đã được
hiện thực hóa vào năm 1995.
Sống trong "Tương lai của các bạn", không phải trong "Quá khứ của
chúng tôi"
Năm
1985, khi vừa tốt nghiệp trường quản lý hành chính công Kenedy,
thuộc ĐH Harvard, Thomas đi cùng John Kerry đến gặp Đại sứ Việt
Nam tại Liên hợp quốc. Vị Đại sứ Việt
Nam
đã mời John Kerry sang Việt
Nam
nhưng ông ấy bận, không thể sang. Đại sứ quay sang Thomas và hỏi:
Anh có muốn sang thăm lại Việt Nam? "Tôi chỉ có một giây để
suy nghĩ và trả lời: Có. Không hề suy nghĩ và cũng không biết
tại sao, chỉ biết, tôi thực sự muốn sang lại vùng đất đó."
Đúng 10 năm sau chiến tranh, Thomas trở lại Việt Nam cùng nhóm
cựu chiến binh để rồi nặng lòng gắn bó với đất nước này trong
gần 20 năm qua.
Lần
đầu tiên trở lại Việt Nam, khi đoàn cựu chiến binh đang dạo phố
Hà Nội, một vài người Việt hỏi họ: "Các ông có phải là lính Mỹ
không?" Tuy không biết chuyện gì sẽ xảy ra, họ đã trả lời "vâng".
Và lời đáp lại "Chào mừng các ông đến Việt Nam" đã khiến những
cựu chiến binh này an tâm nhẹ nhõm vô cùng - Cựu Tổng thống Mỹ
Bill Clinton đã từng nhắc lại câu chuyện này trước hàng nghìn
bạn trẻ Việt Nam.
Như
Clinton đã nói, đến đây, "họ suy nghiệm lịch sử mà không tái
diễn lịch sử, mang lại cơ hội cho những người trẻ tuổi ở cả hai
nước được sống trong Tương lai của các bạn chứ không phải trong
Quá khứ của chúng tôi".
"Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng điều chúng ta
có thể thay đổi là Tương lai".
Để
tạo sự thay đổi, hai bên cùng nỗ lực giải quyết từng vấn đề
riêng rẽ, những chướng ngại vật phải vượt qua. Vật cản lớn nhất
mà thế hệ nghị sĩ này phải vượt qua chính là "bóng ma" về "tù
nhân chiến tranh", những câu chuyện đã trở thành "huyền thoại"
về việc Việt Nam vẫn còn giam lỏng tù binh sau chiến tranh được
lưu truyền trong xã hội Mỹ.
Các
nghị sĩ đã vận động thành lập một Uỷ ban đặc biệt trực thuộc
nghị viện nhằm giải quyết dứt điểm vấn đề POW/MIA. Để Uỷ ban đặc
biệt hoàn thành trách nhiệm, tất cả các thành viên trong Uỷ ban
phải cùng kí vào bản báo cáo khẳng định Việt
Nam
không còn giam giữ tù binh. Ủy ban được trao nhiều nguồn lực và
trách nhiệm, có thể đi bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào khi
có thông tin, dù bịa đặt về việc Việt Nam còn giam giữ tù nhân.
Bản
thân Việt
Nam
đã cho phát sóng hàng tuần chương trình tìm kiếm thông tin về
những người mất tích trong cuộc chiến vào mỗi Chủ nhật. Hai phía
Việt Nam và Mỹ đã phối hợp cùng nhau tìm kiếm, ngay cả ở những
địa điểm chật chội, nguy hiểm và nhiều khi được xem là "nhạy cảm"
đối với Việt Nam. Cùng sự tham gia của quân đội hai nước, Ủy ban
đã có được bằng chứng xoá bỏ hoàn toàn huyền thoại về POW/MIA,
thoát khỏi bóng ma quá khứ về tù nhân chiến tranh.
"Quyết tâm của phía Việt
Nam
giúp mang hài cốt các quân nhân Mỹ tử trận về cho thân nhân của
họ chính là sức bật lớn nhất để cải tiến những quan hệ". cựu
Tổng thống Bill Clinton ghi nhận.
Có
lúc, hai phía đã phải chịu những mất mát. Trong chuyến công tác
tìm kiếm POW/MIA, một tai nạn máy bay thảm khốc nổ ra, 19 người
chết, cả quân nhân Mỹ và Việt
Nam.
Trong lễ tưởng niệm tại Hà Nội, thân nhân của những quân nhân
này đã ôm nhau thắm thiết, cùng khóc chia sẻ một nỗi đau chung.
Thomas đã bật khóc rời khỏi phòng khi phóng viên nhắc lại sự
kiện đau thương ấy. Trên chiếc máy bay đó có những người bạn
thân, bạn tốt, gần gũi của Thomas. Với nhiều người Mỹ, trong đó
có Pete Peterson, Đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Việt Nam, đó là
thời điểm kết thúc cuộc chiến.
|