|
Giới thạo tin tại Washington cho hay tuần rồi, chính phủ
Hoa Kỳ đã đề nghị với Việt Nam xúc tiến việc bắt đầu vòng
thảo luận đầu tiên để lập cơ chế đối thoại mới về chính
trị, quốc phòng cũng như trao đổi thường xuyên và sâu sắc
hơn về những vấn đề liên quan đến chiến lược và an ninh.

Mối bang giao Việt - Mỹ đã có nhiều tiến triển trong những
năm gần đây cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa.
Sau hàng chục năm gián đoạn, tàu hải quân Mỹ đã nhiều lần
cập cảng Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng trong các chuyến
viếng thăm hữu nghị. Hình: AFP
Trước biến chuyển được các nhà quan sát gọi là mới lạ và
đáng chú ý này, Ban Việt Ngữ của đài RFA đã phỏng vấn Giáo
Sư Nguyễn Mạnh Hùng, một chuyên gia về quan hệ Việt-Mỹ.
Mỹ muốn thúc đẩy hợp tác với VN
Nguyễn Khanh: Hoa Kỳ đã chính thức gởi đề nghị cho Việt
Nam để bắt đầu vòng thảo luận đầu tiên (lập cơ chế đối
thoại mới về chính trị, quốc phòng, và chính sách nhằm
trao đổi thường xuyên và sâu sắc hơn về các vấn đề chiến
lược và an ninh). Như vậy, rõ ràng Washington đã đi bước
trước. Giáo sư có ngạc nhiên không?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Nếu nói là hoàn toàn ngạc nhiên thì
không đúng, mà nói là không ngạc nhiên chút nào cũng không
đúng. Nếu ta theo rõi tiến trình quan hệ Mỹ-Việt, thì đề
nghị của Mỹ chỉ là tiếp nối tự nhiên của mối quan hệ ấy và
thái độ của Mỹ.
Quan hệ Mỹ-Việt đi từ bình thuờng hóa quan hệ ngoại giao
đến hợp tác kinh tế-thương mại. Việc còn lại chỉ là củng
cố quan hệ quân sự. Trong lãnh vực này, phía Mỹ đã đi
truớc nhiều lần trước đáp ứng do dự của Việt Nam. Bộ
truởng quốc phòng Mỹ thời Clinton, ông Cohen, là nhà lãnh
đạo quân sự cao cấp nhất của Mỹ đề nghị viếng thăm Việt
Nam, chuyến đi của ông chỉ được thực hiện sau nhiều lần
trì hoãn.
Mỹ đề nghị cho hải quân Mỹ tìm kiếm lính Mỹ mất tích trên
biển ở ngoài khơi Việt Nam; đề nghị này cũng chỉ được phía
VN đồng ý sau nhiều trì hoãn. Gần đây, Mỹ đề nghị thao
diễn hải quân chung để cứu tàu bị nạn mà VN chưa đáp ứng.
Lần này, trong thông cáo chung nhân chuyến thăm Mỹ cùa Thủ
tuớng VN Nguyễn Tấn Dũng, hai bên đã đồng ý “lập cơ chế
đối thoại mới về chính trị-quốc phòng và chính sách nhằm
tăng cuờng sự trao đổi thuờng xuyên và sâu sắc hơn về các
vần đề chiến luợc và an ninh.”
Đề nghị cũa Mỹ là hành động tự nhiên để thực hiện và đinh
chế hóa sự cộng tác mà hai bên đã đồng ý. Sáng kiến này
của Mỹ đưa ra trong thời điểm nước Mỹ bận rộn về nhiều
việc và chỉ hơn một tháng sau chuyến viếng thăm của Thủ
Tuớng Dũng không phải là điều đáng ngạc nhiên nhưng có một
ý nghĩa đặc biệt.
Nguyễn Khanh: Bước kế tiếp là bước của Việt Nam. Bước đi
này như thế nào?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Trong chuyến thăm Hoa Kỳ tháng 6 vừa
qua, ông Dũng đã đạt đuợc hai điều quan trọng trong quan
hệ quốc phòng của hai nuớc. Thứ nhất, hai bên đồng ý lập
“cơ chế đối thoại mới về chính tri-quốc phòng và chính
sách nhằm tăng cuờng sự trao đổi thuờng xuyên và sâu sắc
hơn về các vần đề chiến luợc và an ninh.”
Thứ hai, đuợc Mỹ tuyên bố ủng hộ “chủ quyền quốc gia, an
ninh, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,” dù lời tuyên bố
quan trọng này chỉ đuợc coi như là một “tái khẳng định,”
nghĩa là không có gì mới, và đuợc chôn vùi trong một đoạn
văn lạc lõng rõ rệt, là đoạn “hai nhà lãnh đạo hài lòng
trước những thành công của người Hoa Kỳ gốc Việt.”
Có liên hệ gì giữa thành công của nguời Hoa Kỳ gốc Việt
với cam kết của Mỹ ủng hộ toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam?
Hai điểm trong thông cáo chung này rõ rệt là do ý muốn của
Việt Nam, thể hiện một nuớc cờ ngoại giao quyết liệt. Ông
Dũng không thể chấp nhận những điều này mà không có sự ủy
nhiệm của Bộ Chinh Trị.
Mỹ hiểu rõ nhu cầu của Việt Nam phải lưu tâm đến phản ừng
của Trung Quốc, và đã tìm cách thích ứng với nhu cầu này.
Bằng chứng là trước khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đi tham dự
hội nghị ở Singapore ông đã ngỏ ý thăm Việt Nam để củng cố
quan hệ quốc phòng, nhưng vì VN trả lời quá chuyến nên
chuyến đi bị hủy.
Phụ tá ngoại trưởng Mỹ, Christopher Hill, mời Thủ Tương VN
thăm Mỹ từ nhiều tháng trước, sự trả lời chậm trễ của phía
Việt Nam suýt nửa đã làm cho chuyến đi bị hủy, nhưng mặc
dầu nghị trình ngoại giao dày đặc của Mỹ trong thời gian
tranh cử TT, phía Mỹ đã cố gắng sắp xếp để tiếp ông Dũng.
Mỹ đã thông cảm và nhân nhượng nhự thế. Nay hai bên đã cam
kết long trọng lập cơ chế thoại cơ chế mới vế chính
trị-quốc phòng, Mỹ chỉ đưa ra đề nghị thực hiện cam kết
này mà nếu Việt Nam không đáp ứng thì Mỹ phải hiểu rằng
các nhà lãnh đạo Việt Nam chia rẽ và sợ Trung Quốc đến nỗi
không dám hành động độc lập để thực hiên cam kết của chính
mình, khác hẳn với thái độ của các nuơc Đông Âu chịu ảnh
huởng của Nga Xô trước kia, như Hung, Ba Lan, Tiệp, Lỗ,
Ukraine, và Georgia.
Không đáp ứng tích cực trước đề nghị của Mỹ còn đưa ra một
tín hiệu không tốt cho các hãng dầu mới ký khế uớc tìm
kiếm và khai thác dầu khí trong vùng lảnh hải của Việt
Nam, và sẽ ảnh hưởng đến thái độ của họ và chính quyền Mỹ
đối với sự phản kháng của Trung Quốc.
Yếu tố TQ trong quan hệ Việt-Mỹ
Nguyễn Khanh: Thưa Giáo sư, yếu tố Trung Quốc ảnh hưởng gì
đến quan hệ Việt - Mỹ, và ảnh hưởng gì đến quyết định của
Việt Nam nói riêng trước đề nghị của Hoa Kỳ?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Cả Mỹ và Việt Nam đều phải để ý đến
phản ưng của Trung Quốc. Mỹ là một siêu cường nên, trong
chính sách ngoại giao có nhiều chọn lựa hơn. Mỹ muốn tăng
cuờng quan hệ với Việt Nam, muôn VN là một thành phần
trong thế đa cực ở Á châu, nhưng không muốn có những hành
động làm TQ cảm thấy bị khiêu khích một cách không cần
thiết. Việt Nam là một nước nhỏ ở sát nách một TQ khổng lồ
nên không thể có thái độ khiêu khích đối với TQ nhưng cũng
phải cố bảo vệ độc lập chính trị và vẹn toàn lạnh thổ.
Trong khi ấy thì TQ vừa không muốn VN thoát khỏi ảnh huơng
của mình mà quá thân thiện với Mỹ vừa quá tham lam trong
tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.
Vì thế, tuy VN tuyên bố theo chính sách ngoại giao đa
phương, đa diện, làm bạn với mọi quốc gia không phân biêt
thể chế chính trị, nhưng trong nhiều năm không dám thi
hành chính sách này đến nơi đến chốn để thoát vòng kiềm
tỏa của TQ, và đi gần lại với Mỹ.
Giữa TQ và Mỹ đã có những thảo luận chiến lươc rồi. Việt
Nam cũng đã có thảo luận chiến lược với một số nước khác.
Bây giờ một cánh cửa mở ra nước Mỹ. Vì thế, cách phản ứng
của VN đối với đề nghị mới của HK là tín hiệu cho HK uớc
tính khả năng và quyết tâm hành động độc lập của VN trước
áp lực tất nhiên phải có từ phía TQ.
Việt Nam đã đá banh sang phần sân của Mỹ qua chuyến đi của
ông Dũng với cái thông cáo chung nói trên. Mỹ đá banh trả
lại bằng đề nghị bắt đầu vòng thảo luận chiến luơc đầu
tiên. Vấn đề là VN có muôn chơi banh tiếp hay không. Việt
Nam có muốn và có khả năng nâng tầm thảo luận chiến luợc
với Mỹ hay không?
Những trở ngại còn lại
Nguyễn Khanh: Thành phần bảo thủ trong giới lãnh đạo Cộng
Sản Việt Nam thường nói “phải lấy bài học quan hệ giữa Hoa
Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa khi chơi với Mỹ”. Giáo Sư cũng rõ,
suy nghĩ này vô hình chung làm tăng thế lực của Trung Quốc
với nền chính trị Việt Nam. Về Việt Nam, nhận định của
Giáo Sư như thế nào?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Lập luận đó không hẳn đúng. Đúng, Mỹ
bỏ VNCH vì sau nhiều năm chiến tranh, việc tiếp tục giúp
VNCH tốn quá và không đuợc dân Mỹ ủng hộ. Nhưng Mỹ đâu có
bỏ Đài Loan và Hàn quốc khi họ gặp khó khăn?
Một trong nhửng ý nghĩa quan trọng nhất của Thông cáo
chung Thuợng Hải năm 1972 là Mỹ và Trung Quốc đã quyệt
định sát cánh với nhau, không chống nhau để cùng đối phó
với Nga Xô. Do đó, VN lúc ấy đã mất tầm quan trọng chiến
luợc và không còn là nơi hai bên phải sống chết tranh
giành ảnh huởng nữa. Mỹ và Trung Quốc chỉ giúp miền Bắc và
miền Nam trong một giới hạn nào đó thôi.
Nếu miền Bắc thất bại trong việc “giải phóng’ miền Nam thì
TQ cũng chấp nhận. Còn nếu VNCH thất bại trong việc tự
phòng vệ thì Mỹ cũng bỏ luôn. Chính sách của Mỹ tùy thuộc
vào khả năng và tầm quan trọng của đồng minh hay quốc gia
đối tác. Trung Quốc cũng cư xử như vậy: họ đã bỏ Khmer Đỏ.
Bài học có thể rút ra là, từ khi có chủ thuyệt Nixon, đối
vói các quốc gia Á châu mà quyền lợi chiến lược của Mỹ
không cao thì Mỹ chỉ yểm trợ hậu cần cho nhựng quốc gia
nào có khả năng tự chiến đấu.
Đó là lý do tại sao Mỹ bỏ VNCH mà lại bảo vệ Đài Loan và
Hàn quốc vì đây là hai quốc gia giàu có về kinh tế, hùng
mạnh vế quân sự, dân chủ về chinh trị, và độc lập đối với
Trung Quốc nên được đại đa số người Mỹ ủng hộ.
Nguyễn Khanh: Còn “diễn biến hòa bình” thì sao? Liệu có
nên xem đây là trở ngại khiến Hà Nội và Washington khó có
thể đến gần với nhau hay không?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Không nhất thiết. Theo định nghĩa của
Hà Nội, diễn biến hòa bình là một âm mưu của Mỹ lật đổ chế
độ cộng sản Việt Nam. Theo tôi, Mỹ không có kế hoạch này
đối với Việt Nam. Dĩ nhiên là Mỹ muốn có dân chủ ở Việt
Nam. Có thì tốt, nhưng không có thì cũng chẳng sao.
Chính sách của Mỹ ở Á châu là duy trì sự hiện diện và uy
thế của mình ở vùng này và tránh tình trạng một quốc gia,
như TQ, có thể khống chế tất cả các nước khác, nghỉa là Mỹ
muốn có thế đa cực ở Á châu.
Vì thế, quyền lợi chủ yếu của Mỹ là muốn có một nước Việt
Nam hùng mạnh, ổn cố, và độc lập với Trung Quốc, chứ không
nhất thiết phải là dân chủ hóa VN. Vả chăng, thay đổi
chinh trị là điều không thể tránh, đối với VN cũng như đối
với TQ.
Quyền lợi của cả Mỹ lẫn Việt Nam đòi hỏi sự thay đội hòa
bình, không có xáo trộn. Hiểu theo nghĩa ấy, thì VN không
có lý do gì mà lo ngại về diễn biến hòa binh.
Các nuớc nhỏ thường đổ tội cho Mỹ tham vọng làm đế quốc.
Giống như mọi cuờng quốc, dĩ nhiên, Mỹ muốn có ảnh hưởng
trên các quốc gia nhỏ hơn. Nhưng khác vói nhiếu cuờng quốc,
chế độ dân chủ và sự kiểm soát hỗ tương trong hệ thống
chính trị của Mỹ không cho Mỹ khả năng cai trị một nước
nào lâu dài nếu bị chống đối.
Sau Đệ nhị Thế chiên, Mỹ là nuớc Tây phuơng đầu tiên trả
đôc lập cho một thuộc địa của mình, là Phi Luật Tân; và
việc Mỹ đô hộ Phi cũng không phải là kết quả trực tiếp của
một chủ ý rõ rệt mà chỉ là hệ quả của việc Tây Ban Nha
thất bại trong cuộc chiên tranh với Mỹ liên quan đến nền
độc lập của Cuba nên không có khả năng chiếm đóng Phi nữa
và tạo cơ hội cho Mỹ điền thế.
Theo RFA
|