Trung Quốc và  học thuyết ngoại giao mới

June 25, 2009

 

 

 

Phần I

Ngày 12/6, Mạng tin “Báo chí quốc tế tổng hợp” của Hồng Công đăng bài bình luận của Wen Liao, Chủ tịch hãng tư vấn kinh tế-chính trị Longford Advisors với nhận định: sau hai thập kỷ chính sách ngoại giao của Trung Quốc được định hướng bởi khái niệm đất nước “trỗi dậy một cách hòa bình”, giờ đây, Bắc Kinh đang hướng tới một học thuyết mới.

Điều này được minh họa rõ rệt bởi tình hình ở Xri Lanca với chiến thắng gần đây trước lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil (LTTE). Thực tế là Trung Quốc đã cung cấp cho Tổng thống Xri Lanca Mahinda Rajapaksa không chỉ sức mạnh quân sự mà còn cả sự hậu thuẫn ngoại giao mà nhân vật này cần để theo đuổi cuộc chiến. Nếu không có sự ủng hộ này của Trung Quốc, chính quyền Rajapaksa sẽ không những không đủ thực lực mà còn không đủ cả ý chí để lờ đi dư luận quốc tế về các hoạt động tấn công phe nổi dậy. Rõ ràng, Trung Quốc không những đang trở thành trung tâm của hệ thống kinh tế và tài chính toàn cầu mà còn thể hiện vai trò chiến lược ở một lĩnh vực vốn trước đây nằm ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh. Trên những mặt trận ở Xri Lanca, học thuyết “trỗi dậy một cách hòa bình” của Trung Quốc có thể coi như đã kết thúc sứ mệnh.

Tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc tại cảng Thanh Đảo

Sự thay đổi này sẽ có ý nghĩa thế nào ở những điểm nóng thế giới như Bắc Hàn, Pakixtan và Trung Á? Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra, Trung Quốc được lợi lớn từ việc cùng phát triển với các nước phía Đông và phía Nam, ngoại trừ Mianma và Bắc Hàn khiến tình hình kém ổn định. Với tình trạng kinh tế trong nước bất ổn bởi cuộc khủng hoảng và sau đó là cuộc suy thoái toàn cầu, Bắc Kinh cảm thấy sự bất ổn ở các lãnh thổ láng giềng đang tạo ra nguy cơ lớn hơn bao giờ hết. Nhằm giải quyết vấn đề này, từ trước đến nay, Trung Quốc đã thúc đẩy các động thái như vòng đàm phán sáu bên về hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, trở thành một nhà đầu tư lớn vào Pakixtan, cùng ký một tuyên bố chung cấp cao Á-Âu, kêu gọi thả thủ lĩnh đối lập ở Mianma là bà Aung San Suu Kyi, đồng thời như đã đề cập ở trên, can thiệp giúp chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 26 năm qua tại Xri Lanca.
Tính toán đằng sau chiến lược an ninh quốc gia mới này của Trung Quốc là rất đơn giản. Nếu không có hòa bình và thịnh vượng xung quanh các đường biên giới với Trung Quốc, sẽ không có hòa bình và thịnh vượng ở “sân nhà”. Sự can dự vào Xri Lanca cũng như thái độ ngày càng kém hài lòng với Bắc Hàn và Mianma cho thấy tính toán trên đang dần trở thành trọng tâm trong suy tính của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh.


Tính toán này cũng đang được áp dụng cho cả những đối thủ khác của Trung Quốc ở khu vực. Ví dụ, Trung Quốc phản ứng rất “nhẹ nhàng” về động thái quân sự của Nga nhằm vào Grudia mùa Hè năm ngoái, nhưng Nga sẽ mắc sai lầm chiến lược nếu coi sự im lặng đó là ngụ ý thừa nhận về ảnh hưởng “đặc quyền” của Cremli tại các quốc gia thuộc Liên Xô cũ nằm ở phía Tây Trung Quốc. Bằng chứng cho sự không hài lòng của Bắc Kinh đã được thể hiện tại hội nghị cấp cao gần đây của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), một tổ chức khu vực trong đó có nhiều quốc gia thuộc Liên Xô cũ chung biên giới với Trung Quốc và Nga. Tổng thống Nga, Dmitri Medvedev thúc đẩy SCO thừa nhận nền độc lập của Ápkhadia và Nam Ôxêtia. Tuy nhiên, SCO do dự. Nhóm các nước Trung Á (Cadắcxtan, Cưrơgưxtan, Tagikixtan và Udơbêkixtan) sẽ không thể ngả theo Cremli nếu Trung Quốc không ủng hộ.


Thủ tướng Nga Vladimir Putin từng mô tả sự đổ vỡ của Liên Xô là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20. Thế nhưng, từ quan điểm Trung Quốc, sự sụp đổ này lại đem đến cho Bắc Kinh lợi ích chiến lược to lớn. Bỗng nhiên, một đế chế từng thôn tính các vùng lãnh thổ Trung Quốc trong nhiều thế kỷ biến mất. Mối đe dọa quân sự từ Liên Xô (từng nghiêm trọng đến mức Chủ tịch Mao Trạch Đông phải mời Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến thăm Trung Quốc nhằm thay đổi cán cân sức mạnh thời Chiến tranh Lạnh) được loại trừ. Cách đánh giá mới của Trung Quốc hiện nay cho thấy Bắc Kinh sẽ không để Nga thúc đẩy việc hình thành một Liên bang Xôviết mới mà theo đó sẽ phá hủy sự thiết lập thời hậu Chiến tranh Lạnh vốn đang chứng kiến kinh tế và an ninh của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ.


Từ trước đến nay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi sự cạnh tranh chiến lược đang nổi lên với Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và Mỹ là cuộc “chen vai sát cánh” giành ảnh hưởng ở Trung Á và Nam Á. Chính sách chiến lược của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh này gồm hai phần. Thứ nhất, bảo đảm rằng không đối thủ nào có được “ảnh hưởng đặc quyền” ở bất kỳ khu vực nào giáp ranh với Trung Quốc. Thứ hai, thúc đẩy ổn định để các tuyến đường biển và thương mại được bảo vệ (lí do dẫn đến lợi ích của Trung Quốc tại Xri Lanca cũng như trong cuộc chiến chống hải tặc Xômali).


Vào thập niên 90, Trung Quốc tìm cách che đậy học thuyết “trỗi dậy một cách hòa bình” dưới chính sách “ngoại giao nụ cười” được thiết lập để bảo đảm rằng không nước láng giềng nào phải e dè, lo ngại Bắc Kinh. Một số biểu hiện là Trung Quốc giảm bớt những rào cản thương mại, tăng cường đầu tư cũng như cho vay ưu đãi để giúp đỡ các nước láng giềng phía Nam . Ngày nay, Chính phủ Trung Quốc tìm cách phát triển chính sách ngoại giao đó để tăng thêm các lựa chọn đồng thời làm thui chột những đối thủ tiềm tàng. Thay vì tiếp tục giữ kiểu bàng quan ngoại giao, Trung Quốc đang tăng cường quan hệ hơn với các láng giềng so với các đối thủ. Mạng lưới này được thiết lập không chỉ để ngăn chặn không cho các đối thủ của Trung Quốc kết hợp lại hay giành được ảnh hưởng đặc quyền mà còn để kiềm chế hành động của đối tác địa phương, dập tắt căng thẳng ở bất cứ đâu.


Thay vì gây lo ngại, quan điểm mới của Trung Quốc cần được xem là việc tạo ra những điều kiện cần thiết cho đối thoại toàn diện về ổn định và cùng tồn tại hòa bình ở châu Á: đó là tôn trọng lợi ích cốt lõi của các bên. Trong vài năm gần đây, một cách tiếp cận như vậy sẽ bị coi là chống lại chính sách ngoại giao của Oasinhtơn vốn có khuynh hướng ủng hộ học thuyết về sự cân bằng giữa các lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, với Chính quyền Obama coi chủ nghĩa hiện thực là nguyên tắc chỉ đạo ngoại giao, Trung Quốc có thể tìm thấy một đối tác đối thoại thiện chí.


Phần II

Mạng tin "Real Clear World" mới đây cũng đăng bài phân tích về tham vọng bành trướng của Trung Quốc của Bill Emmott, tác giả cuốn sách “Những địch thủ: Cạnh tranh quyền lực giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản sẽ định hình thập kỷ tới như thế nào”. Tác giả dẫn lời một nhà sử học thời Victoria (thế kỷ 19) nói rằng nước Anh trước đây đã “chinh phục nửa thế giới với một cái đầu rỗng”. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay không phải là “đầu rỗng”, mà trái lại họ đang có mưu toan chiến lược lâu dài, có tính toán kỹ lưỡng và với một cái đầu lạnh. Tuy nhiên, cung cách gây ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực lại giống với những gì mà người Anh đã làm và điều này có thể làm gia tăng căng thẳng giữa Trung Quốc với đối thủ khu vực của họ là Ấn Độ.

Tàu khu trục mang tên lửa "Thâm Quyến" của Trung Quốc tại Trạm Giang, Quảng Đông

Việc Xri Lanca cuối cùng cũng kết thúc được cuộc nội chiến kéo dài một phần tư thế kỷ là một bằng chứng về tầm với của Trung Quốc. Thắng lợi của Chính phủ Xri Lanca một phần nhờ có vũ khí do Trung Quốc cung cấp, đặc biệt là máy bay chiến đấu. Trung Quốc đang xây dựng một cảng mới ở miền Nam Xri Lanca, mà hải quân Trung Quốc có thể sử dụng để tiếp dầu hoặc bảo dưỡng tu sửa tầu thuyền. Đây là một phần của chiến lược mở rộng ảnh hưởng sang Ấn Độ Dương, mà trong truyền thống Ấn Độ vẫn coi là khu vực ảnh hưởng của mình. Công binh Trung Quốc cũng đang xây dựng một hải cảng khác ở Gwadar của Pakixtan. Trung Quốc đang xây dựng những con đường xuyên Mianma, để nối liền thông thương giữa tỉnh Vân Nam với Ấn Độ Dương. Các trạm do thám của Trung Quốc đang được xây dựng hoặc nâng cấp trên các đảo của Mianma. Trung Quốc cũng đang cải thiện quan hệ với quần đảo Xâysen giữa Ấn Độ Dương.


Trong những năm 1990, chính sách đối ngoại của Trung Quốc là “giấu mình, nhưng tăng cường sức mạnh và mài giũa nanh vuốt chờ thời”, theo chủ trương của Đặng Tiểu Bình. Chính sách xuất khẩu cách mạng thời Mao Trạch Đông hoàn toàn bị xoá bỏ. Những bất đồng biên giới với hầu hết các nước láng giềng được giải quyết. Viện trợ của Trung Quốc bắt đầu được chuyển cho những nước nghèo, như Campuchia, Lào và Mianma, để đánh đổi lấy tình hữu nghị, thúc đẩy thương mại và tăng dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Chính sách hỗ trợ Pakixtan, được coi là biện pháp để kìm chân Ấn Độ, vẫn được theo đuổi, nhưng kín đáo hơn. Vũ khí và các loại viện trợ tiếp tục được cung cấp cho Xri Lanca, Bănglađét và Nêpan, nhưng không quá lộ liễu và ồ ạt tới mức làm cho Ấn Độ phải lo ngại.


Tuy nhiên, giống như Anh hồi thế kỷ 19, việc trao đổi thương mại cũng đang tạo ra một loạt vấn đề mới. Nền công nghiệp của Trung Quốc đang khát dầu lửa và tài nguyên từ các nước Arập ở vùng Vịnh và châu Phi. Thế là thương mại xuyên Ấn Độ Dương tới Trung Quốc tăng vọt. Các công ty quốc doanh của Trung Quốc cũng tăng mạnh đầu tư vào các mỏ và giếng dầu ở châu Phi. Công nhân Trung Quốc được chuyển tới châu Phi làm việc. Sau đó, quân đội Trung Quốc được điều tới để bảo vệ công nhân của mình, ở những nước mà an ninh không bảo đảm lắm, như Xuđăng và Êtiôpia. Chưa hết, thương mại của Trung Quốc đang ngày càng cần tới hoạt động chống hải tặc và trong tương lai có thể phải chống phong toả nữa. Thế là ngọn cờ quân sự của Trung Quốc đi theo thương mại.


Những gì Trung Quốc đang làm ở Ấn Độ Dương có thể được giải thích bằng nhu cầu phát triển kinh tế và sự mở rộng tự nhiên của một cường quốc quân sự mới. Trung Quốc cần phải xây dựng hải cảng và đường sá để khỏi bị phụ thuộc quá nặng nề vào tuyến hàng hải đi qua eo biển Malắcca giữa Xinhgapo và Inđônêxia, mà có thể bị đối phương dễ dàng phong toả. Hải quân Trung Quốc cần hải cảng để tiếp dầu và tham gia bảo vệ các tuyến đường biển ở Ấn Độ Dương, giống như tầu của Ấn Độ, Pháp, Anh, Mỹ và sắp tới cả Nhật Bản đang thực hiện. Phần lớn mức tăng ngân sách quốc phòng hai con số của Trung Quốc được dành cho nỗ lực tăng cường sức mạnh hải quân. Lớp tàu ngầm mới đã được đưa vào sử dụng. Tại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hải quân Trung Quốc, người ta đã ám chỉ rằng Trung Quốc sẽ sớm đóng tàu sân bay, phương tiện cần thiết cho bất cứ nước nào muốn thể hiện sức mạnh hải quân vượt ra ngoài chức năng tuần tiễu ven biển.


Lẽ ra người ta không nên lo ngại hay ngạc nhiên trước việc Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương và châu Phi. Đó chỉ là những gì mà một nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và một trong những quốc gia lãnh đạo thế giới tương lai đáng làm mà thôi. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lo ngại và họ có lý do để lo ngại. Lo ngại nhất là Ấn Độ, nước đang bị bao bọc giữa cái mà các nhà quân sự gọi là “vòng vây Trung Quốc”, giữa những hải cảng và căn cứ quân sự mà Trung Quốc dựng lên ở Nam Á và giữa các nước mà Trung Quốc đang cung cấp vũ khí. Các nước châu Á khác cũng lo ngại trước sức mạnh to lớn của Hải quân Trung Quốc vì nhiều bất đồng về chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông (Nam Trung Hoa) vẫn chưa được giải quyết, và vì cán cân quân sự trong khu vực đang ngày càng mất cân bằng. Sự bành trướng của Trung Quốc làm cho người ta lo ngại vì chi phí và các hoạt động quân sự của Trung Quốc không minh bạch. Người ta cũng lo ngại vì khu vực này không có tổ chức nào tương đương như NATO hay Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) để thảo luận và giải quyết những mối lo ngại về an ninh và quốc phòng của khu vực.


Không ai ngăn chặn được Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng. Tuy nhiên, cái người ta có thể và nên làm là xây dựng các thể chế khu vực tương tự như NATO hay OSCE cho châu Á để giám sát và trong chừng mực nào đó kiểm soát sự bành trướng của Trung Quốc. Nếu không, một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực sẽ xảy ra, vì Ấn Độ, Nhật Bản và các nước khác sẽ buộc phải tăng cường sức mạnh quân sự của mình để ngăn chặn cuộc xâm lược trong tương lai của Trung Quốc. Điều đó đã và đang xảy ra. Nếu cuộc chạy đua vũ trang này vượt ra ngoài tầm kiểm soát thì hậu quả của nó sẽ nguy hiểm cho toàn thế giới.


Phần III

Máy bay tiêm kích phản lực Jian-10 thế hệ ba của Trung Quốc

Theo tạp chí "Thông Luận” , những động thái gần đây của Bắc Hàn trong việc thử nghiệm bom nguyên tử ngầm dưới lòng đất và phóng nhiều tên lửa tầm xa khiêu khích dư luận thế giới cho thấy có bàn tay tác động của Trung Quốc. Bắc Kinh rất muốn biết phản ứng của Mỹ đối với khu vực Đông Á khi có bất ổn. Từ một vài năm trở lại đây, Bắc Kinh không còn che giấu tham vọng bành trướng ra thế giới, đặc biệt là trên biển. Từ một lực lượng canh phòng duyên hải, Hải quân Trung Quốc đang được trang bị các tàu chiến hiện đại để trở thành một lực lượng viễn dương có khả năng tiến ra các vùng biển sâu cạnh tranh sức mạnh với bất kỳ cường quốc hải quân nào. Để bắt kịp sự chậm trễ của mình trên Biển Đông, Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực để chiếm đoạt các đảo nằm trên những tuyến đường chiến lược hay có trữ lượng tài nguyên lớn của những quốc gia yếu kém hơn: năm 1974 chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, từ 1988 đến 1995 chiếm nhiều mỏm đá và bãi san hô của Việt Nam và Philíppin trong quần đảo Trường Sa. Gần đây, Trung Quốc còn muốn chiếm đảo Senkaku (Điếu Ngư) của Nhật Bản nằm giữa lằn ranh phân chia hải phận. Bản đồ lãnh hải của Trung Quốc đang được vẽ lại với một chiều rộng lan tới vùng biển Đông Nam Á, cách lục địa Trung Quốc hơn ba ngàn cây số theo đường chim bay về phía Nam .


Tham vọng bành trướng này không dừng ở đó, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc còn muốn tranh giành quyền bá chủ trên các đại dương. Bắc Kinh đã không ngần ngại dành một khoản ngân sách khổng lồ cho lực lượng hải quân và không quân để trang bị các phương tiện tác chiến hiện đại. Để có thể hiện diện tại khắp nơi, Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải trong một thời gian kỷ lục, với ba hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ, đủ khả năng tác chiến xa trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Bắc Kinh đang thương lượng với các Chính quyền Inđônêxia, Mianma và Pakixtan để xây dựng những trạm radar và căn cứ hải quân tiếp tế các loại tàu thuyền của họ qua lại trong vùng. Mặc dù không bị một đe dọa nào, Bắc Kinh cũng đang gấp rút tăng cường khả năng tác chiến trên biển. Để thay thế các loại tàu ngầm lớp Hạ (Xia) còn tốt, ban lãnh đạo quân sự Trung Quốc đã đưa vào hoạt động các loại tàu ngầm lớp Tấn (Jin) tối tân hơn, và để thay thế tàu ngầm tấn công lớp Hán (Han), họ đang gấp rút đóng loại tàu ngầm trang bị tên lửa liên lục địa lớp Thương (Shang). Chỉ riêng loại tàu ngầm lớp Thương, Bắc Kinh dự trù sản xuất khoảng 50 chiếc từ 2010 đến 2015, nâng tổng số tàu ngầm tấn công lên trên 100 chiếc. Nhiều quân cảng tàu ngầm được xây dựng tại Bắc Hải (Thanh Đảo), Đông Hải (Thượng Hải) và Nam Hải (Hải Nam ). Nỗ lực bành trướng ra biển, theo những tuyên bố từ Bắc Kinh, là để bảo vệ những đường tiếp tế chiến lược về năng lượng và hàng hoá xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Tại sao phải bảo vệ bằng quân sự? Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan là những nền kinh tế mạnh, cũng rất cần năng lượng và xuất nhập khẩu hàng hoá nhưng không bên nào trong số ba nền kinh tế muốn làm bá chủ những đường tiếp liệu chiến lược này. Thêm vào đó, không bên nào có hành vi xâm chiếm lãnh hải và hải đảo của các quốc gia khác, trừ Trung Quốc.


Tham vọng bành trướng ra biển của Trung Quốc hiện nay có nhiều trùng hợp với những động thái của quân phiệt Nhật trong thập niên 1930: muốn đọ sức với Mỹ để giành quyền bá chủ trên các đại dương. Đủ khả năng hay là chuyện khác, niềm tự hào dân tộc của Trung Quốc quá lớn để có thể có một thái độ khiêm nhường về khả năng của chính mình. Trước kia, chế độ quân phiệt Nhật có thực lực về quân sự, kỹ thuật và tài chính, họ không vay mượn của ai. Trong khi hiện nay, Bắc Kinh phải mua gần như tất cả các bằng sáng chế vũ khí hiện đại thế hệ n-1 của Nga, nghĩa là lúc nào cũng thua Nga một bước. Để che lấp sự yếu kém này, Bắc Kinh gia tăng một cách không bình thường số lượng tàu ngầm tấn công; vấn đề là tất cả mọi di chuyển của các tàu ngầm này đều bị Hải quân Mỹ và Nhật Bản phát giác và lên tiếng cảnh báo; một cách gián tiếp, chúng có thể bị tiêu diệt bất cứ lúc nào. Do đó, nếu tham vọng bành trướng này cứ tiếp tục, Trung Quốc sẽ kiệt quệ và sụp đổ như Liên Xô vì không thể đua tài trên một sân chơi mà mình không có khả năng sáng tạo và nguồn hỗ trợ tài chính lâu dài. Đừng quên sự phát triển của Trung Quốc hoàn toàn lệ thuộc vào xuất khẩu.


Ngược lại, sức mạnh của Mỹ và các quốc gia dân chủ phương Tây không dựa vào vũ khí mà trên cơ sở ý kiến và sáng kiến, đây là nguồn tài nguyên bất tận chỉ những xã hội thật sự dân chủ mới có. Nhờ có tự do, các xã hội dân sự không bị xơ cứng, lúc nào cũng sẵn sàng phát huy sáng kiến mới để tạo ra của cải và tiền bạc. Qua nguồn thuế thu được từ các xã hội này, các chính quyền phương Tây có điều kiện để giữ vững về lâu về dài sức mạnh và sự giàu có của mình. Trong các chế độ độc tài, xã hội dân sự bị bóp nghẹt, chính quyền chỉ có thể trông cậy vào chính họ để áp đặt những biện pháp truy thu tài chính, nhưng khả năng không thể kéo dài. Ước muốn hiện đại hóa lực lượng hải quân của Trung Quốc cũng khuyến khích một phong trào chạy đua vũ trang qui mô tại Đông Á và Đông Nam Á. Ngân sách quốc phòng của các quốc gia trong khu vực tăng cao một cách không bình thường. Nhật Bản, Hàn Quốc và lãnh thổ Đài Loan đang thay thế toàn bộ máy bay và tàu chiến thuộc thế hệ 1990 bằng thế hệ 2000, như các loại máy bay F-2, F-22, F-35 của Mỹ, tàu ngầm không tiếng động và tàu chiến loại tàng hình. Xinhgapo, Inđônêxia, Philíppin, Malaixia, Thái Lan cũng đang thay mới kho vũ khí. Riêng Việt Nam còn được Mỹ và Nhật Bản đề nghị giúp đỡ quốc phòng một cách đặc biệt, nếu biết khai thác. Những phô trương quân sự gần đây của Trung Quốc chỉ hù dọa được các chính quyền không có hậu thuẫn quốc tế. Những hành động gây hấn trên Biển Đông nhằm uy hiếp các tàu thuyền dân sự của Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á khác chỉ tăng thêm quyết tâm của Mỹ bao vây Trung Quốc.

 


 

© Báo  Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ liên hệ: Điện thoại: (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558 - Email:
Danquyennews@aol.com