|
Thực tế này hoàn toàn khác biệt với những lời kêu gọi lặp đi lặp
lại về cái gọi là tìm kiếm an ninh năng lượng trên cơ sở
độc lập năng lượng.
Gần đây, ở Hoa Kỳ luôn thấy xuất hiện những đề xuất mơ hồ về việc
tách nước này ra khỏi thị trường năng lượng thế giới,
đặc biệt là thị trường dầu mỏ. Từ tuyên bố về Dự án độc
lập của Tổng thống Richard Nixon - người đã đề ra mục
tiêu tới năm 1980 cắt giảm hoàn toàn việc nhập khẩu dầu,
đến những chính sách quyết liệt mà hai ứng cử viên tổng
thống luôn đề cập đến trên con đường chạy đua vào nhà
Trắng, việc thoát khỏi lệ thuộc vào nhập khẩu dầu từ
nước ngoài đã trở thành mục tiêu chính sách diễn thuyết
nổi bật.
Tuy nhiên, trên thực tế, bất chấp những lời kêu gọi này, lượng dầu
nhập khẩu của Hoa Kỳ đã tăng từ 35% đến 58% so với lượng
cung.
Tuy nhiên, tốt hơn hết chúng ta không nên đổ lỗi thất bại này cho
lý do không thực hiện triệt để các chính sách trên. Vấn
đề nằm ở chỗ ngay từ khi hình thành ý tưởng, các nhà
hoạch định chính sách đã vấp phải những sai lầm nghiêm
trọng.
Rõ ràng, mục tiêu thoát khỏi nhập khẩu dầu của Hoa Kỳ là chuyện
không tưởng, và những người đề xuất ra mục tiêu đó đã
tảng lờ những đặc trưng cơ bản của hệ thống năng lượng
toàn cầu.
Mục tiêu không tưởng...
Vấn đề không phải là phụ thuộc hay không phụ thuộc vào dầu nhập
khẩu. Nếu chỉ riêng nhập khẩu là một vấn đề thì việc mở
rộng thương mại thế giới với những mặt hàng thiết yếu
khác như lương thực cũng cần phải được xem xét lại.
Sự thật là chúng ta sẽ không thể tránh khỏi nguy cơ bị đe doạ trước
những cú “shock” năng lượng, hệ quả của những sự kiện có
thể làm lung lay sự ổn định của những quốc gia sản xuất
dầu.
Ngoài ra, yếu tố địa chất cũng là một rào cản. Thiên nhiên đã hào
phóng ban tặng chúng ta những khu vực địa chất với lượng
dầu mỏ và khí gas dồi dào, dễ khai thác.
Tuy nhiên, các khu địa chất này lại nằm ở những nơi như Vùng Vịnh
Ba Tư với những chính phủ đang phải vật lộn với tình
trạng bất ổn hoặc có nguy cơ bất ổn. Trong một số trường
hợp, đi đôi với bất ổn còn có những làn sóng chống đối
lại chính sách của Hoa Kỳ (như chính sách của Hugo
Chavez ở Venezuela).
Ở những nước sản xuất dầu lớn khác như Nigeria, trữ lượng dầu dồi
dào cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề chính trị nội bộ, huỷ
hoại chính quyền và gây gián đoạn việc cung cấp dầu.
Mặc dù nhìn chung, trữ lượng dầu và khí gas trên tổng quy mô toàn
cầu rất dồi dào, nhưng có một vấn đề là trữ lượng dồi
dào đó lại tập trung ở những vùng đất là tâm điểm của
rắc rối và bất ổn.
Ngành sản xuất dầu mỏ đang phải chịu sức ép của nhu cầu ngày càng
tăng về năng lượng nhằm phục vụ cho những nền kinh tế
lớn ở các nước phát triển, đồng thời làm dịu cơn khát
đang bùng nổ của những nền kinh tế đang phát triển như
Trung Quốc và Ấn Độ.
Thực ra, nhu cầu chung trên thế giới gia tăng phần nào cũng là tin
tốt lành vì đó là minh chứng cho việc nâng cao mức sống
của hàng trăm triệu người nghèo. Tuy nhiên, chúng ta
cũng đừng vội mừng vì trước tình hình nhu cầu đang tăng
lên mà lượng cung dầu mỏ và khí gas tự nhiên (mặc dù rất
dễ khai thác) có hạn thì việc giá dầu tăng chóng mặt là
một hệ quả nhãn tiền.
Quyền lực chi phối nền kinh tế thế giới
Tác động của cung cầu đối với thị trường năng lượng dù rất chậm
chạp nhưng lại rất bền bỉ và có sức ảnh hưởng lớn. Sự
kết hợp giữa nâng cao hiệu suất và tăng lượng cung, cùng
với cái giá phải trả do sự chững lại của nền kinh tế,
hứa hẹn sẽ có một vài động thái điều chỉnh giá dầu nhập
khẩu. Tuy nhiên, việc điều chỉnh giá dầu không có nghĩa
là giá dầu sẽ giảm mãi mãi. Đến một lúc nào đó nó sẽ
tăng trở lại và thậm chí còn tăng cao hơn trước.
Có thể nói lưu lượng dầu trên thị trường thế giới và bất kỳ sự kiện
nào xảy ra ở một nơi cũng có thể ảnh hưởng đến giá dầu ở
mọi nơi trên thế giới. Vì thế, những cú shock giá dầu là
điều không thể tránh khỏi.
Thậm chí, nếu Hoa Kỳ có thể cắt giảm lượng tiêu dùng dầu của nước
mình thì cũng vẫn không tránh khỏi tác động của giá dầu
thế giới đang tăng cao. Chính giá dầu thế giới mới là
nhân tố quyết định giá năng lượng nội địa và gây ảnh
hưởng tới nền kinh tế thế giới.
Thêm vào đó, chính sách dầu mỏ của Hoa Kỳ cũng sẽ không đủ sức làm
ảnh hưởng đến lượng doanh thu khổng lồ của các nước xuất
khẩu dầu mỏ.
Một nỗ lực dũng cảm cắt giảm lượng dầu nhập khẩu có thể có chút
hưởng nào đó đến giá dầu thế giới nhưng ảnh hưởng đó
không đủ mạnh đối với doanh thu của các nước có truyền
thống xuất khẩu dầu mỏ. Có chăng cũng chỉ là một vài ảnh
hưởng ngoại biên đối với nguồn cung.
Do đó, nhu cầu thế giới giảm cũng chỉ có thể gây ảnh hưởng đến
những nhà sản xuất cát nhựa (tar sands) ở Canada chứ
không phải là những giếng dầu ở vùng vịnh Ba Tư. Nếu
chúng ta dùng biện pháp cắt giảm nhu cầu về dầu mỏ chỉ
vì những hoài nghi về túi tiền của các nước xuất khẩu
dầu mỏ thì đó quả là một công cụ chính sách lỗ mãng và
thiếu hiệu quả.
An ninh năng lượng - nỗi lo chung của thế giới?
Ngoài vấn đề về dầu hoả, những lời diễn thuyết ủng hộ chính sách về
thay đổi khí hậu đã mở rộng phạm vi của vấn đề an ninh
năng lượng, bao gồm cả tình trạng trái đất nóng lên và
những ảnh hưởng của nó.
Tình trạng tích tụ khí nhà kính ngày càng tăng dẫn đến hậu quả trái
đất nóng lên và biến đổi khí hậu cũng đã được nhìn nhận
một cách nghiêm túc và trở thành mối lo chung của toàn
cầu. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí
hậu cũng không đồng đều trên thế giới.
Một số khu vực ở vị trí thấp có thể phải đối mặt với thảm họa từ
việc mực nước biển tăng hoặc hiểm họa từ những trận bão
lớn. Ngược lại, biến đổi khí hậu lại có chiều hướng tác
động tích cực đối với những khu vực hàn đới. Do đó, cùng
với những hậu quả tiêu cực nói chung, sự mất cân bằng
toàn cầu có thể là nguyên nhân gây mâu thuẫn giữa các
quốc gia.
Việc thừa nhận biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề của an
ninh năng lượng cũng đã góp phần củng cố quan điểm khẳng
định mối tương thuộc giữa các quốc gia. Việc tích tụ khí
nhà kính là một vấn đề toàn cầu, và việc phát thải khí
nhà kính ở nơi này cũng có thể ảnh hưởng đến việc tích
tụ khí nhà kính ở nơi khác.
Vấn đề trái đất nóng lên là một ví dụ hoàn hảo cho thực tế về mối
tương thuộc giữa các nơi trên thế giới: trong khi chỉ có
một số ít nơi được hưởng lợi từ phát thải khí nhà kính
thì cả thế giới phải gánh chịu hậu quả của tình hình
biến đổi khí hậu. Với khí hậu, không tồn tại cái gọi là
độc lập năng lượng.
Hơn nữa, còn phải kể đến vấn đề chiến tranh và hòa bình. An ninh
quốc tế có quan hệ mật thiết với việc kiểm soát nguồn
năng lượng. Những mối lo của Nhật Bản về an ninh dầu hỏa
có một phần trách nhiệm cho sự bùng nổ của thế chiến thứ
II.
Cuộc xâm lược Kwait của Saddam Hussein cũng nhằm chiếm giữ tầm kiểm
soát lượng dầu lớn. Hai cuộc chiến tiếp theo tại Iraq
sau đó được phát động một phần cũng nhằm ngăn chặn việc
sử dụng doanh thu từ dầu phục vụ cho những mục đích làm
phương hại đến an ninh quốc tế.
Việc sử dụng các biện pháp quân sự mà không sử dụng các chính sách
năng lượng cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công cụ
hiệu quả và vô hiệu. Tuy nằm sâu dưới mặt đất nhưng
những giếng dầu ở Trung Đông đã có tác động không chỉ
tới những chính sách năng lượng mà còn tác động tới
những vấn đề quan trọng khác như địa chính trị và an
ninh.
Và việc phát triển năng lượng nguyên tử thay thế cho dầu và gas
cũng làm nảy sinh những quan ngại sâu sắc về an ninh
liên quan đến việc phổ biến vũ khí hạt nhân. Ngay từ
đầu, các nhà lãnh đạo cần để tâm một chút tới mối tương
thuộc năng lượng nhằm đạt được những quyết sách đúng đắn
về năng lượng mà không cần tập trung vào việc cắt giảm
nhập khẩu dầu mỏ.
Xây dựng chính sách an ninh năng lượng chung cho toàn cầu
Tốt nhất là chúng ta nên xây dựng các chính sách năng lượng dựa
trên một nguyên tắc chung là cố gắng đưa dầu mỏ vào danh
sách các mặt hàng thông thường. Đem lại sự phồn thịnh
cho nhân dân là nghĩa vụ của chính phủ các nước sản xuất
dầu mỏ, nhưng điều đó không có nghĩa là hình thành một
chính phủ độc quyền.
Cần có những động thái thương mại hóa những công ty và nguồn tài
nguyên quốc doanh. Ngoài ra, minh bạch về các luồng
doanh thu và sự bình ổn qua các quỹ đầu tư có thể giúp
giảm nhẹ những hiểm họa về năng lượng. Bên cạnh thương
mại hóa sở hữu quốc doanh về các công ty và các nguồn
tài nguyên dầu mỏ cần phải có tự do hóa thị trường năng
lượng tạo điều kiện cho một thị trường cạnh tranh.
Gắn kết vấn đề năng lượng trong mối tương quan thương mại thông
thường nhằm nâng cao sự vững mạnh và linh hoạt của hệ
thống năng lượng. Điều tiết năng lượng theo những biện
pháp hỗ trợ thị trường giúp giảm thiểu chi phí quản lý
của chính phủ.
Góp phần đáng kể đối với nhu cầu thế giới đang ngày càng thay đổi,
các nước xuất khẩu dầu mỏ đã áp dụng những chính sách
bảo hộ giá cả. Saudi Arabia, Iran, Venezuela và rất
nhiều quốc gia khác đã cung cấp dầu cho thị trường nội
địa với mức giá chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá
xuất khẩu.
Indonesia, do các biện pháp bảo hộ thị trường nội địa, đã phải gánh
chịu hậu quả từ một nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành một
nước nhập khẩu, mất dần những lợi ích trên thị trường
dầu mỏ thế giới. Vì thế, một chính sách chung về giá
nhiên liệu giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ sẽ đóng vai
trò quan trọng trong việc đem lại lợi ích kinh tế lâu
dài cho các nước này và góp phần đảm bảo an ninh năng
lượng trên toàn thế giới.
Các động thái của Liên minh Châu Âu (EU) trên thị trường năng lượng
chứng tỏ đã có một chính sách được xây dựng trên định
hướng công nhận mối tương thuộc về năng lượng giữa các
quốc gia.
Chính sách của liên minh Châu Âu là tự do hóa và hội nhập thị
trường năng lượng. Các khía cạnh kỹ thuật của thị
trường, các tổ chức, và đặc biệt trong trường hợp của
ngành điện lực cho thấy những trở ngại dữ dội nhưng
không có nghĩa là không thể vượt qua.
Tuy nhiên, việc áp dụng thành công chính sách của EU còn phần nào
phụ thuộc vào các chính sách của Nga về khí gas tự nhiên
và dầu mỏ. Việc chính phủ Nga mở rộng tầm kiểm soát đối
với lĩnh vực năng lượng đã làm dấy lên một mối quan ngại
sâu sắc về những đe dọa đối với an ninh năng lượng.
Ngoài ra, việc nước này tạm dừng cung cấp dầu mỏ cho các nướng láng
giềng do nước này bảo hộ cho thấy tính nguy cấp của việc
chính trị hóa vấn đề năng lượng và nó cũng cho thấy một
nhu cầu cấp thiết của việc coi năng lượng là một mặt
hàng thương mại thông thường chứ không phải là nguồn tài
sản chiến lược độc quyền.
Trước tình hình đó, EU đã gây sức ép đối với Nga và yêu cầu nước
này áp dụng những chính sách cởi mở hơn và có tính
thương mại hơn. Mặc dù những cố gắng này rất khó có thể
đạt được hiệu quả nhưng ít nhất nó cũng cho thấy một nỗ
lực giải quyết những vấn đề cốt lõi.
Việc mở rộng phạm vi vấn đề sang chính sách về biến đổi khí hậu đã
càng khẳng định mối tương thuộc năng lượng chính là kim
chỉ nam thích hợp nhất trong việc xây dựng các chính
sách về năng lượng.
Tuy nhiên, nếu không có sự hỗ trợ của các quốc gia khác trên thế
giới với những chính sách tương đồng thì hành động đơn
lẻ của một quốc gia cũng không thể giúp ích được gì
nhiều trong việc thay đổi cục diện vấn đề.
Tái sử dụng năng lượng, nếu chỉ là mục tiêu của từng vùng trong một
quốc gia, sẽ không có hiệu quả bằng việc nó trở thành
mục tiêu của cả một đất nước và lại càng không thể đạt
được hiệu quả bằng việc cả thế giới nhìn nhận nó là mục
tiêu chung.
Việc tập trung cắt giảm nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm nảy sinh ra một
loại chính sách phục vụ việc đánh thuế dầu nhập khẩu từ
Brazil và bảo hộ ngành sản xuất nhiên liệu nội địa.
Ngược lại, nếu xét trên khía cạnh mối tương thuộc năng lượng thì
việc nhập khẩu nhiên liệu được sản xuất hiệu quả hơn từ
Bazil sẽ giúp tăng cường an ninh năng lượng. Cần phải
coi việc mua bán nhiên liệu tái sử dụng và giảm phát
thải khí nhà kính là mục tiêu chiến lược tối quan trọng.
Năng lượng là vấn đề quan trọng, tuy nhiên giấc mơ hão huyền về cái
gọi là độc lập năng lượng có thể dẫn đến những hậu quả
khôn lường.
Gần đây, hội đồng dầu mỏ quốc gia Hoa Kỳ (The U.S. National
Petroleum Council) đã nhận thấy: “Sẽ không có an ninh
năng lượng trong nội bộ Hoa Kỳ nếu không có an ninh năng
lượng trên toàn thế giới”.
Các yếu tố về địa chất và chính trị đã khiến các quốc gia trên thế
giới có mối tương quan phụ thuộc với nhau sâu sắc và các
nhà lãnh đạo khi xây dựng các chính sách cần phải ưu
tiên việc bảo vệ và nâng cao mối tương thuộc về năng
lượng đó.
An ninh năng lượng thực sự đến từ hệ thống năng lượng khỏe mạnh với
tính đa dạng và linh hoạt, chứ không phải từ việc tự cô
lập với chính sách tự cấp tự túc như giấc mộng hão huyền
mà các nhà lãnh đạo của chúng ta đã từng theo đuổi.
|