Giấc mơ năng lượng của Hoa Kỳ có thành hiện thực?

August 21, 2008


Không chỉ riêng Hoa Kỳ mà năng lượng luôn là vấn đề nóng của toàn cầu. Hãy nghe William Hogan, chuyên gia chính sách năng lượng toàn cầu, bàn về vấn đề năng lượng, dầu mỏ và giấc mơ hão huyền về độc lập năng lượng của Hoa Kỳ qua bài viết được đăng tạp chí National Strategy Forum Review.

Từ giấc mơ độc lập năng lượng

Những chính sách về an toàn năng lượng được xây dựng chủ yếu dựa trên mối tương thuộc năng lượng giữa các quốc gia.

Nguồn vàng đen này vẫn chi phối đến toàn bộ nền kinh tế thế giới
Ảnh nguồn: express.howstuffworks.com

Thực tế này hoàn toàn khác biệt với những lời kêu gọi lặp đi lặp lại về cái gọi là tìm kiếm an ninh năng lượng trên cơ sở độc lập năng lượng.

Gần đây, ở Hoa Kỳ luôn thấy xuất hiện những đề xuất mơ hồ về việc tách nước này ra khỏi thị trường năng lượng thế giới, đặc biệt là thị trường dầu mỏ. Từ tuyên bố về Dự án độc lập của Tổng thống Richard Nixon - người đã đề ra mục tiêu tới năm 1980 cắt giảm hoàn toàn việc nhập khẩu dầu, đến những chính sách quyết liệt mà hai ứng cử viên tổng thống luôn đề cập đến trên con đường chạy đua vào nhà Trắng, việc thoát khỏi lệ thuộc vào nhập khẩu dầu từ nước ngoài đã trở thành mục tiêu chính sách diễn thuyết nổi bật.

Tuy nhiên, trên thực tế, bất chấp những lời kêu gọi này, lượng dầu nhập khẩu của Hoa Kỳ đã tăng từ 35% đến 58% so với lượng cung.

Tuy nhiên, tốt hơn hết chúng ta không nên đổ lỗi thất bại này cho lý do không thực hiện triệt để các chính sách trên. Vấn đề nằm ở chỗ ngay từ khi hình thành ý tưởng, các nhà hoạch định chính sách đã vấp phải những sai lầm nghiêm trọng.

Rõ ràng, mục tiêu thoát khỏi nhập khẩu dầu của Hoa Kỳ là chuyện không tưởng, và những người đề xuất ra mục tiêu đó đã tảng lờ những đặc trưng cơ bản của hệ thống năng lượng toàn cầu.

Mục tiêu không tưởng...

Vấn đề không phải là phụ thuộc hay không phụ thuộc vào dầu nhập khẩu. Nếu chỉ riêng nhập khẩu là một vấn đề thì việc mở rộng thương mại thế giới với những mặt hàng thiết yếu khác như lương thực cũng cần phải được xem xét lại.

Sự thật là chúng ta sẽ không thể tránh khỏi nguy cơ bị đe doạ trước những cú “shock” năng lượng, hệ quả của những sự kiện có thể làm lung lay sự ổn định của những quốc gia sản xuất dầu.

Ngoài ra, yếu tố địa chất cũng là một rào cản. Thiên nhiên đã hào phóng ban tặng chúng ta những khu vực địa chất với lượng dầu mỏ và khí gas dồi dào, dễ khai thác.

Tuy nhiên, các khu địa chất này lại nằm ở những nơi như Vùng Vịnh Ba Tư với những chính phủ đang phải vật lộn với tình trạng bất ổn hoặc có nguy cơ bất ổn. Trong một số trường hợp, đi đôi với bất ổn còn có những làn sóng chống đối lại chính sách của Hoa Kỳ (như chính sách của Hugo Chavez ở Venezuela).

Ở những nước sản xuất dầu lớn khác như Nigeria, trữ lượng dầu dồi dào cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề chính trị nội bộ, huỷ hoại chính quyền và gây gián đoạn việc cung cấp dầu.

Mặc dù nhìn chung, trữ lượng dầu và khí gas trên tổng quy mô toàn cầu rất dồi dào, nhưng có một vấn đề là trữ lượng dồi dào đó lại tập trung ở những vùng đất là tâm điểm của rắc rối và bất ổn.

Ngành sản xuất dầu mỏ đang phải chịu sức ép của nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng nhằm phục vụ cho những nền kinh tế lớn ở các nước phát triển, đồng thời làm dịu cơn khát đang bùng nổ của những nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ.

Thực ra, nhu cầu chung trên thế giới gia tăng phần nào cũng là tin tốt lành vì đó là minh chứng cho việc nâng cao mức sống của hàng trăm triệu người nghèo. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng vội mừng vì trước tình hình nhu cầu đang tăng lên mà lượng cung dầu mỏ và khí gas tự nhiên (mặc dù rất dễ khai thác) có hạn thì việc giá dầu tăng chóng mặt là một hệ quả nhãn tiền.

Quyền lực chi phối nền kinh tế thế giới

Tác động của cung cầu đối với thị trường năng lượng dù rất chậm chạp nhưng lại rất bền bỉ và có sức ảnh hưởng lớn. Sự kết hợp giữa nâng cao hiệu suất và tăng lượng cung, cùng với cái giá phải trả do sự chững lại của nền kinh tế, hứa hẹn sẽ có một vài động thái điều chỉnh giá dầu nhập khẩu. Tuy nhiên, việc điều chỉnh giá dầu không có nghĩa là giá dầu sẽ giảm mãi mãi. Đến một lúc nào đó nó sẽ tăng trở lại và thậm chí còn tăng cao hơn trước.

Có thể nói lưu lượng dầu trên thị trường thế giới và bất kỳ sự kiện nào xảy ra ở một nơi cũng có thể ảnh hưởng đến giá dầu ở mọi nơi trên thế giới. Vì thế, những cú shock giá dầu là điều không thể tránh khỏi.

Thậm chí, nếu Hoa Kỳ có thể cắt giảm lượng tiêu dùng dầu của nước mình thì cũng vẫn không tránh khỏi tác động của giá dầu thế giới đang tăng cao. Chính giá dầu thế giới mới là nhân tố quyết định giá năng lượng nội địa và gây ảnh hưởng tới nền kinh tế thế giới.

Thêm vào đó, chính sách dầu mỏ của Hoa Kỳ cũng sẽ không đủ sức làm ảnh hưởng đến lượng doanh thu khổng lồ của các nước xuất khẩu dầu mỏ.

Một nỗ lực dũng cảm cắt giảm lượng dầu nhập khẩu có thể có chút hưởng nào đó đến giá dầu thế giới nhưng ảnh hưởng đó không đủ mạnh đối với doanh thu của các nước có truyền thống xuất khẩu dầu mỏ. Có chăng cũng chỉ là một vài ảnh hưởng ngoại biên đối với nguồn cung.

Do đó, nhu cầu thế giới giảm cũng chỉ có thể gây ảnh hưởng đến những nhà sản xuất cát nhựa (tar sands) ở Canada chứ không phải là những giếng dầu ở vùng vịnh Ba Tư. Nếu chúng ta dùng biện pháp cắt giảm nhu cầu về dầu mỏ chỉ vì những hoài nghi về túi tiền của các nước xuất khẩu dầu mỏ thì đó quả là một công cụ chính sách lỗ mãng và thiếu hiệu quả.

An ninh năng lượng - nỗi lo chung của thế giới?

Ngoài vấn đề về dầu hoả, những lời diễn thuyết ủng hộ chính sách về thay đổi khí hậu đã mở rộng phạm vi của vấn đề an ninh năng lượng, bao gồm cả tình trạng trái đất nóng lên và những ảnh hưởng của nó.

Tình trạng tích tụ khí nhà kính ngày càng tăng dẫn đến hậu quả trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu cũng đã được nhìn nhận một cách nghiêm túc và trở thành mối lo chung của toàn cầu. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu cũng không đồng đều trên thế giới.

Một số khu vực ở vị trí thấp có thể phải đối mặt với thảm họa từ việc mực nước biển tăng hoặc hiểm họa từ những trận bão lớn. Ngược lại, biến đổi khí hậu lại có chiều hướng tác động tích cực đối với những khu vực hàn đới. Do đó, cùng với những hậu quả tiêu cực nói chung, sự mất cân bằng toàn cầu có thể là nguyên nhân gây mâu thuẫn giữa các quốc gia.

Việc thừa nhận biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề của an ninh năng lượng cũng đã góp phần củng cố quan điểm khẳng định mối tương thuộc giữa các quốc gia. Việc tích tụ khí nhà kính là một vấn đề toàn cầu, và việc phát thải khí nhà kính ở nơi này cũng có thể ảnh hưởng đến việc tích tụ khí nhà kính ở nơi khác.

Vấn đề trái đất nóng lên là một ví dụ hoàn hảo cho thực tế về mối tương thuộc giữa các nơi trên thế giới: trong khi chỉ có một số ít nơi được hưởng lợi từ phát thải khí nhà kính thì cả thế giới phải gánh chịu hậu quả của tình hình biến đổi khí hậu. Với khí hậu, không tồn tại cái gọi là độc lập năng lượng.

Hơn nữa, còn phải kể đến vấn đề chiến tranh và hòa bình. An ninh quốc tế có quan hệ mật thiết với việc kiểm soát nguồn năng lượng. Những mối lo của Nhật Bản về an ninh dầu hỏa có một phần trách nhiệm cho sự bùng nổ của thế chiến thứ II.

Cuộc xâm lược Kwait của Saddam Hussein cũng nhằm chiếm giữ tầm kiểm soát lượng dầu lớn. Hai cuộc chiến tiếp theo tại Iraq sau đó được phát động một phần cũng nhằm ngăn chặn việc sử dụng doanh thu từ dầu phục vụ cho những mục đích làm phương hại đến an ninh quốc tế.

Việc sử dụng các biện pháp quân sự mà không sử dụng các chính sách năng lượng cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công cụ hiệu quả và vô hiệu. Tuy nằm sâu dưới mặt đất nhưng những giếng dầu ở Trung Đông đã có tác động không chỉ tới những chính sách năng lượng mà còn tác động tới những vấn đề quan trọng khác như địa chính trị và an ninh.

Và việc phát triển năng lượng nguyên tử thay thế cho dầu và gas cũng làm nảy sinh những quan ngại sâu sắc về an ninh liên quan đến việc phổ biến vũ khí hạt nhân. Ngay từ đầu, các nhà lãnh đạo cần để tâm một chút tới mối tương thuộc năng lượng nhằm đạt được những quyết sách đúng đắn về năng lượng mà không cần tập trung vào việc cắt giảm nhập khẩu dầu mỏ.

Xây dựng chính sách an ninh năng lượng chung cho toàn cầu

Tốt nhất là chúng ta nên xây dựng các chính sách năng lượng dựa trên một nguyên tắc chung là cố gắng đưa dầu mỏ vào danh sách các mặt hàng thông thường. Đem lại sự phồn thịnh cho nhân dân là nghĩa vụ của chính phủ các nước sản xuất dầu mỏ, nhưng điều đó không có nghĩa là hình thành một chính phủ độc quyền.

Cần có những động thái thương mại hóa những công ty và nguồn tài nguyên quốc doanh. Ngoài ra, minh bạch về các luồng doanh thu và sự bình ổn qua các quỹ đầu tư có thể giúp giảm nhẹ những hiểm họa về năng lượng. Bên cạnh thương mại hóa sở hữu quốc doanh về các công ty và các nguồn tài nguyên dầu mỏ cần phải có tự do hóa thị trường năng lượng tạo điều kiện cho một thị trường cạnh tranh.

Gắn kết vấn đề năng lượng trong mối tương quan thương mại thông thường nhằm nâng cao sự vững mạnh và linh hoạt của hệ thống năng lượng. Điều tiết năng lượng theo những biện pháp hỗ trợ thị trường giúp giảm thiểu chi phí quản lý của chính phủ.

Góp phần đáng kể đối với nhu cầu thế giới đang ngày càng thay đổi, các nước xuất khẩu dầu mỏ đã áp dụng những chính sách bảo hộ giá cả. Saudi Arabia, Iran, Venezuela và rất nhiều quốc gia khác đã cung cấp dầu cho thị trường nội địa với mức giá chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá xuất khẩu.

Indonesia, do các biện pháp bảo hộ thị trường nội địa, đã phải gánh chịu hậu quả từ một nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành một nước nhập khẩu, mất dần những lợi ích trên thị trường dầu mỏ thế giới. Vì thế, một chính sách chung về giá nhiên liệu giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đem lại lợi ích kinh tế lâu dài cho các nước này và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng trên toàn thế giới.

Các động thái của Liên minh Châu Âu (EU) trên thị trường năng lượng chứng tỏ đã có một chính sách được xây dựng trên định hướng công nhận mối tương thuộc về năng lượng giữa các quốc gia.

Chính sách của liên minh Châu Âu là tự do hóa và hội nhập thị trường năng lượng. Các khía cạnh kỹ thuật của thị trường, các tổ chức, và đặc biệt trong trường hợp của ngành điện lực cho thấy những trở ngại dữ dội nhưng không có nghĩa là không thể vượt qua.

Tuy nhiên, việc áp dụng thành công chính sách của EU còn phần nào phụ thuộc vào các chính sách của Nga về khí gas tự nhiên và dầu mỏ. Việc chính phủ Nga mở rộng tầm kiểm soát đối với lĩnh vực năng lượng đã làm dấy lên một mối quan ngại sâu sắc về những đe dọa đối với an ninh năng lượng.

Ngoài ra, việc nước này tạm dừng cung cấp dầu mỏ cho các nướng láng giềng do nước này bảo hộ cho thấy tính nguy cấp của việc chính trị hóa vấn đề năng lượng và nó cũng cho thấy một nhu cầu cấp thiết của việc coi năng lượng là một mặt hàng thương mại thông thường chứ không phải là nguồn tài sản chiến lược độc quyền.

Trước tình hình đó, EU đã gây sức ép đối với Nga và yêu cầu nước này áp dụng những chính sách cởi mở hơn và có tính thương mại hơn. Mặc dù những cố gắng này rất khó có thể đạt được hiệu quả nhưng ít nhất nó cũng cho thấy một nỗ lực giải quyết những vấn đề cốt lõi.

Việc mở rộng phạm vi vấn đề sang chính sách về biến đổi khí hậu đã càng khẳng định mối tương thuộc năng lượng chính là kim chỉ nam thích hợp nhất trong việc xây dựng các chính sách về năng lượng.

Tuy nhiên, nếu không có sự hỗ trợ của các quốc gia khác trên thế giới với những chính sách tương đồng thì hành động đơn lẻ của một quốc gia cũng không thể giúp ích được gì nhiều trong việc thay đổi cục diện vấn đề.

Tái sử dụng năng lượng, nếu chỉ là mục tiêu của từng vùng trong một quốc gia, sẽ không có hiệu quả bằng việc nó trở thành mục tiêu của cả một đất nước và lại càng không thể đạt được hiệu quả bằng việc cả thế giới nhìn nhận nó là mục tiêu chung.

Việc tập trung cắt giảm nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm nảy sinh ra một loại chính sách phục vụ việc đánh thuế dầu nhập khẩu từ Brazil và bảo hộ ngành sản xuất nhiên liệu nội địa.

Ngược lại, nếu xét trên khía cạnh mối tương thuộc năng lượng thì việc nhập khẩu nhiên liệu được sản xuất hiệu quả hơn từ Bazil sẽ giúp tăng cường an ninh năng lượng. Cần phải coi việc mua bán nhiên liệu tái sử dụng và giảm phát thải khí nhà kính là mục tiêu chiến lược tối quan trọng.

Năng lượng là vấn đề quan trọng, tuy nhiên giấc mơ hão huyền về cái gọi là độc lập năng lượng có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Gần đây, hội đồng dầu mỏ quốc gia Hoa Kỳ (The U.S. National Petroleum Council) đã nhận thấy: “Sẽ không có an ninh năng lượng trong nội bộ Hoa Kỳ nếu không có an ninh năng lượng trên toàn thế giới”.

Các yếu tố về địa chất và chính trị đã khiến các quốc gia trên thế giới có mối tương quan phụ thuộc với nhau sâu sắc và các nhà lãnh đạo khi xây dựng các chính sách cần phải ưu tiên việc bảo vệ và nâng cao mối tương thuộc về năng lượng đó.

An ninh năng lượng thực sự đến từ hệ thống năng lượng khỏe mạnh với tính đa dạng và linh hoạt, chứ không phải từ việc tự cô lập với chính sách tự cấp tự túc như giấc mộng hão huyền mà các nhà lãnh đạo của chúng ta đã từng theo đuổi.

 

 

 

© Báo  Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ liên hệ: Điện thoại: (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558 - Email:
Danquyennews@aol.com