"Thầy ơi, tiếng Việt con học là tiếng Việt gì?"

August 23, 2008


 

 

Câu hỏi ấy đã được tiến sĩ Thái Duy Bảo, hiện là giảng viên tại Đại học quốc gia Úc Đại lợi nhắc đến trong hội thảo quốc tế "Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ - những vấn đề lý luận và thực tiễn" tổ chức tại Việt Nam đầu tháng 8-2008 vừa qua.

"Đó là câu hỏi thường gặp ở những lớp học tiếng Việt, đặc biệt ở những đối tượng là sinh viên có nguồn gốc Việt thuộc thế hệ một rưỡi hoặc thế hệ thứ hai sinh ra và lớn lên ở Úc" - theo TS Bảo. TS Thái Duy Bảo đã tiến hành nghiên cứu khẩu ngữ tiếng Việt, một phần trong đề tài chung về "Cộng đồng người Việt" bắt đầu từ 2004 tại Đại học Quốc gia Úc.

Đối tượng nghiên cứu của ông là cuộc sống cộng đồng người Việt di dân tại Úc từ khoảng bốn năm nay, gồm khoảng 200.000 người, sống tập trung ở các bang New South Wales, Victoria, Queensland, Nam Úc và Perth. Đó là một con số không nhỏ trong tổng số hơn 3 triệu người gốc Việt sinh sống trên 90 quốc gia và lãnh thổ hiện nay - những người luôn mang nặng tình hoài hương, và theo TS Bảo, họ có "hành trang không thể ly gián là văn hóa và ngôn ngữ cội nguồn".

Loại tiếng Việt họ sử dụng đã có nhiều thay đổi, điển hình là ngôn ngữ trong một số video clip được TS Bảo trình bày tại hội thảo. Đây là cuộc trò chuyện giữa hai cô bé tuổi 10-12:

- Cái này me tặng cho you nè. Me giữ một cái, you giữ một cái. Chừng nào you nhìn thấy nó, you nghĩ tới me.

- À, you lucky (may mắn) hơn me nhiều lắm, vì you có ba nè, you có má nè. Mỗi lần me đi học về, me buồn lắm. Me khóc hoài à... Er.. Má me nói me là... hổng có me, là má me kills herself (tự tử)...Không chỉ trong tiếng nói, cách viết của người Việt di dân cũng thay đổi rất nhiều. TS Bảo gọi đây là việc "chuyển di từ vựng" - mượn tiếng của người bản địa để chêm vào ngôn ngữ của mình. Có thể thấy rõ điều này trên các tờ báo địa phương, đó là các mẩu quảng cáo: "Sang shop sửa máy cắt"; "Hoàn thành komplit kitchen, "Làm neo"...

Những người Việt định cư chưa lâu, có gốc gác từ các miền quê VN thì sử dụng ngôn ngữ càng "phong phú” hơn nhiều, chẳng hạn chỉ riêng về sinh hoạt giải trí họ có thể nói như sau: đi lấp (go to clubs), kéo máy (đánh bài trên máy ở sòng bài), kasinô (casino), pati (party), đi/lấy holiđêy (take holidays), thuê lét (rent a flat), đìpôsít (deposit), tiền ren (rent), intơrịt fri (interest-free), êdừn (real estate agent), lóckờ (locker), goarốp (wardrobe), đúpbồ gara (double garage), đi bớt (going by bus), pê chéc (pay-check), bizinịt (business), goarănti (warranty), insuarăn (insurance), côngtrắc (contract)...

 

 

 

 

© Báo  Dân Quyền thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình.
Địa chỉ liên hệ: Điện thoại: (405) 525-3881 Fax: (405) 692-8558 - Email:
Danquyennews@aol.com