|
Không có giác quan
cơ thể chúng ta không thể chuyển động mềm mại và cũng không thể đi xe
đạp, không thể chơi thể thao mà cũng không thể làm việc trong bóng tối.
Và giác quan thứ sáu này không chỉ cảm nhận cơ thể: Với nó chúng ta cảm
nhận được chiếc ghế đang ngồi lên được tạo dáng như thế nào. Chúng ta có
thể đoán còn bao nhiêu sữa trong hộp giấy khi chỉ nhấc lên và lắc nhẹ nó.
Giác quan này thông
tin cho chúng ta về sự phân bố của trọng lượng, trọng tâm và cân bằng,
về việc lực nào có tác động nào đến sự chuyển động. Với nó, người bồi
bàn có thể giữ thăng bằng một khay đầy thức ăn ở trên đầu trong một buổi
tiệc. Nó biến những công cụ như dao và nĩa, búa hay kéo, và ngay cả ô tô
nữa, trở thành một phần của thân thể. Chúng ta có thể cảm nhận một cây
cọ vẽ cho đến tận đầu cọ.
Khác với ngửi hay nghe, giác quan cơ thể không có một cơ quan riêng biệt.
Chúng ta cảm nhận cơ thể và tư thế của nó bằng nhiều giác quan khác:
Chẳng hạn, ở trong bắp thịt, gân và khớp sử dụng cảm giác tiếp xúc và
cảm giác thăng bằng, đặc biệt là với những cái được gọi là cơ quan tự
cảm ở trong đó. Các trạm đo đạc tí hon này thông tin liên tục cho bộ não
về tư thế, lực kéo căng và chuyển động của cơ thể. Trong cánh tay, phần
thân trên và ở chân, chúng chiếm vị thế áp đảo trong giác quan cơ thể.
Ngược lại, cảm giác của hai bàn tay - phát triển rất cao ở loài người –
lại bao gồm hai phần đều nhau của xúc giác và nhận cảm.
Thêm vào đó, đóng
vai trò quan trọng trong việc cảm nhận được cơ thể là trí nhớ. Cảm giác
mở một cánh cửa ra như thế nào? Một đứa bé phải với tới nhiều lần. Thế
nhưng khi đứa bé có đủ kinh nghiệm, nó sẽ nhìn từ xa mà biết được cửa có
dễ mở hay không. Một quả cầu sắt lớn nhìn từ xa đã thấy nặng - bởi vì
chúng ta đã từng làm việc với sắt trước đó.
Thật khó có thể tin
rằng một giác quan quan trọng như vậy lại không được nhận thấy mãi cho
đến cách đây khoảng 100 năm. Thế nhưng sau khi Aristoteles từ thời cổ
đại nhận ra được 5 giác quan, không có thay đổi nào khác hơn trong vòng
2000 năm liền.
Mãi đến đầu thế kỷ
19 nhà tâm lý học Scottland Charles Bell mới tự hỏi rằng người mù làm
sao lại có thể hành động khéo léo và có mục đích như vậy. Ông suy diễn
là phải có một giác quan cho tư thế và chuyển động của cơ thể. Cuối cùng,
vào đầu thế kỷ 20, nhà thần kinh học đoạt Giải Nobel Y học Charles
Sherrington chỉ ra rằng bắp thịt và gân chứa đầy những tế bào giác quan
mà ông gọi là "proprioceptor" – cơ quan tự cảm. Từ đó giác quan được
phát hiện có tên là proprioception - sự nhận cảm trong cơ thể.
Con người sử dụng
cảm nhận cơ thể nhiều hơn khỉ rất nhiều để thấu hiểu được cơ học của
chính mình và vật lý của đồ vật. Mắt chỉ là một thay thế không hoàn hảo.
Số phận của ông Ian Waterman cho thấy: Ít ra phải luyện tập nhiều năm
mới có lại được một phần sự kiểm soát của cảm nhận cơ thể đã mất đi và
thí dụ như có thể dùng mắt để với đến một ly nước. Phần lớn những người
mất đi giác quan cơ thể phải nằm trên gường hay ngồi trên xe lăn suốt
cuộc đời.
Việc ông Ian
Waterman có thể tự đi lại được là một trường hợp ngoại lệ, nhờ vào một
chương trình huấn luyện sáng tạo do ông tự nghĩ ra và nhờ vào ý muốn
thành công sắt đá và sự siêng năng của ông. Hoàn toàn không có gì là tự
động cả, ông phải có kế hoạch cho từng chi tiết của hành động. Khi đi
lại hay chỉ ngồi yên, ông không được phép mất tập trung một giây phút
nào. Chuyển động hết sức bình thường trong một ngày đòi hỏi những cố
gắng của một vận động viên thể thao hàng đầu, như ông nói. Ngược lại,
những người khỏe mạnh gần như không nhận biết họ đã nghiêng về phía nào
và bao xa để giữ được thăng bằng. Việc đó cứ như tự xảy ra thông qua sự
nhận cảm của cơ thể.
Theo
Spiegel Online
|