|
|
Cỗ là bữa ăn đặc biệt có tính chất
long trọng, thân tình được tổ chức trong gia đình như: tết nhất,
tiệc cưới, cỗ nhà đám, giỗ chạp, mừng một sự thành công, mừng cha
mẹ sống lâu...

Có
nhiều loại cỗ, cỗ tứ quý gồm 4 thứ hải sản chế biến thành mâm cỗ,
cỗ cưới có xôi gấc đỏ, cỗ nhà đám có xôi trắng, cỗ mặn, cỗ chay...
Có mâm cỗ một tầng, hai tầng, hoặc năm tầng, như ở 49 làng quan
họ xưa. Riêng cỗ mừng thọ của cha mẹ là do con cái đóng góp làm
cỗ, các con trai làm các món ninh giò, mọc, nem, các con gái làm
các món bánh rồi quây quần với nhau ăn cỗ. Ở các gia đình khá giả
hoặc ở thành phố, cỗ "khai trừ" tất cả các món ăn mà thường ngày
dùng như dưa, cà, cá kho, rau muống...
Mâm cỗ ở mỗi vùng quê Việt Nam có
hương vị riêng nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi mâm có 4 hoặc 6 người.
Thông thường người ta kiêng ngồi 5 người, ở mâm cỗ có ít nhất hai
người thân nhau, cũng có khi 3 cặp đều thân nhau thành một cỗ.
Chủ nhà tế nhị mời những người ăn ý với nhau vào một cỗ, sàn sàn
lứa tuổi với nhau vào cùng mâm. Những người có tửu lượng cùng
mạnh hoặc cùng nhẹ vào một cỗ, những người bằng vai phải lứa với
nhau vào một cỗ. Đàn ông vào cỗ với nhau, còn đàn bà ngồi với đàn
bà.
Trước đây, ở nông thôn cũng như thành phố đều có những phường nấu
cỗ thuê do các nghệ nhân sành nghề, khéo tay đảm nhiệm. Họ thường
có kỹ thuật cao và cha truyền con nối. Họ có được những món
truyền thống độc đáo. Ví dụ, ông Kiếm ở Cổ Nhuế biểu diễn giết gà
một mình chỉ cần chiếc tăm vót nhọn. Ông Khán Trúc ở Trích Sài
một mình giết một con lợn 15 kg, chỉ cần một vò nước nóng. Trong
phường nấu cỗ thuê có ông trùm phường là giỏi nhất. Những người
nấu cỗ thuê rất hãnh diện về nghề và thích được đi nấu ở nhiều
nơi, chủ yếu là để lấy tiếng chớ không vì vật chất. Họ góp ý kiến
với nhà chủ, ra thực đơn rồi chia nhau mỗi người làm một hoặc
nhiều món sở trường.
Mâm cỗ một tầng cơ bản thường là 5 bát: bóng, miến, măng, mọc,
chim hoặc gà tần và năm đĩa: giò, chả, gà hoặc vịt luộc, nộm, xào.
Có khi gia giảm bằng các món rán, nướng, quay hoặc nem Sài Gòn,
xôi, chè... được xếp phía ngoài để ăn sau cùng. Bát nước mắm chấm
có hồ tiêu, chanh, ớt hoặc cà cuống đặt giữa mâm.
Người uống được rượu thích những món có kèm xương xẩu hoặc sụn
như đầu gà, cánh gà hoặc món nộm có đủ chua ngọt, cay, bùi, giòn,
mềm. Rau thơm thường dùng húng láng thơm ngát, canh giới thơm
thanh cao hoặc rau ngổ có mùi thơm sắc gọn mà dữ dội.
Cỗ ở miền Nam có thêm chả nướng ăn với rau thơm, khế, chuối xanh,
giá, đậu phộng, bánh tráng...
Mâm cỗ Việt Nam thơm ngon có truyền thống lâu đời, không cầu kỳ
nhưng có đủ mùi vị, màu sắc. Trên bát bóng có những lát bóng
trắng ngọc, điểm mấy lát trứng tráng vàng, vài con tôm đỏ, vài
quả đậu Hà Lan xanh, nấm hương màu nâu. Trên bát miến có gan gà
màu vàng đậm, tiết màu đỏ huyết dụ, thịt nạc màu trắng đục, mộc
nhĩ đen nâu, ở giữa có một dúm rau mùi xanh rờn. Khoanh giò thái
ra có màu trắng ngon lành, hành xanh có củ trắng ngần, ớt đỏ hoặc
vàng tươi trang điểm cho bát chấm vàng nâu... mâm cỗ là một bức
tranh đẹp và hấp dẫn.
Ăn cỗ xong khách còn ăn xôi, chè hoa cau, chè cốm hoặc chè đậu
đãi, rồi ra bàn bên cạnh uống nước trà, hút thuốc lào, bàn bên
các cụ bà ăn trầu.
Lúc khách ra về, chủ và khách chắp tay trên ngực, nói với nhau
vài câu quý hóa rồi cùng vái nhau mấy vái. Cái kiểu chào này thật
trang trọng, thân mật, giản dị, đượm màu sắc Phật giáo. Một số
khách vừa thân tình vừa có họ với gia chủ ở lui lại một chút. Họ
nhận phần gồm một nắm hoặc một đĩa xôi, có thêm miếng thịt hay
quả chuối, vì thế mới có câu: Có xôi có thịt mới nên phần.
Cỗ Việt Nam là cả một công trình, nó không phải là tiệc, không
phải là liên hoan. Nó có cái độc đáo của nó, có điều ngày nay các
phường nấu cỗ thuê không tồn tại nữa, kho tàng nghệ thuật ẩm thực
Việt Nam cũng mất đi nhiều điều quý báu. Phải chăng, các nhà làm
bếp bây giờ cần phải đi tìm lại kỹ thuật nấu cỗ của người xưa để
bữa cỗ Việt Nam được vừa dân tộc, vừa khoa học hơn. Ẩm thực cũng
là điều thiêng liêng, là nghệ thuật, là văn hóa.
|
|