|
|
Hương là thơm,
chất thơm để cùng dường tam bảo, cúng thần linh nơi chùa, đ́nh,
đền, miếu và các bàn thờ gia tiên.
Người ta
thường cúng dường như Phật bằng ba thứ hương: Mạt hương (hương
bột), Thiêu hương (hương đốt), Đồ hương (hương bôi lên cây nhang).
Ngoài những loại hương thông thường, c̣n những danh hương quư
được đem cúng dường nơi Phật đài như: Chiên đàn hương (hương này
c̣n diệt trừ ô trược), Trầm hương, Đâu lâu ba hương (một thứ cỏ
bên Thiên Trúc, mùi rất thơm), Tất lực ca hương (một thứ đinh
hương ở Thiên Trúc, mùi rất thơm, cũng dùng để ăn, làm thuốc).

Đứng về mặt ư
nghĩa, đốt hương nến (nói chung: có lửa khói) là một biểu hiện
mong muốn tiếp xúc với thần linh. Vào thời nguyên thuỷ, khi con
người đă có tư duy, họ muốn giải thích những hiện tượng tự nhiên
và xă hội có liên quan tới cuộc sống thường nhật. Từ sự bế tắc do
khả năng nhận thức có hạn nên nảy sinh thần linh. Cư dân của một
số tộc người cũng sớm định vị cho thần linh là ở tầng trên. Con
người cũng sớm cho thần linh là ở tầng trên. Con người cũng sớm
cho rằng thần linh đă trực tiếp chi phối tới nhiều mặt của đời
sống chính ḿnh, và họ t́m cách thông linh (giao tiếp với thần).
Không một cách nào có thể giúp con người bay lên trên cao. Chỉ
tới khi t́m thấy lửa, dần dần con người nhận thấy, khi đốt lửa,
th́ bao giờ khói cũng bay lên. Như thế, bằng thực tế phát triển
lịch sử xă hội, bằng tri giác đi tới đúc kết, con người sử dụng
lửa để giao tiếp với thần. Biết bao lễ hội mang tính cổ truyền
bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ được diễn ra quanh đống lửa. Những
điệu múa trầm hùng, làm rung động cả núi rừng châu Phi của các
nam nữ, nhất là khi các bộ phận sinh sôi và nuôi dưỡng được "nhảy
múa" mạnh mẽ theo những nhịp nhất định, th́ đó là h́nh ảnh, động
tác mà con người muốn thông qua lửa khói để chuyển tải lên tầng
trên, nhằm nhắc nhở thần linh: hăy theo sự gợi ư của con người mà
thực hiện nhiệm vụ, cho âm dương đối đăi, cây trồng sinh sôi...
Đó là chưa kể tới, trong đêm tối, ngọn lửa bập bùng h́nh bóng của
con người, muôn loài cây cỏ lay động như cùng có hồn, dễ hoà nhập
và người ta có cảm giác gần gũi hơn với thế giới bên kia.
Hương thắp
vừa đạt được ư nguyện tâm linh dâng mùi thơm và chuyển lời cầu
khẩn lên các thần, vừa để biểu hiện chính tâm (tâm hướng tới điều
thiện). V́ thế người Việt sẽ rất áy náy khi đi lễ mà không có
hương đèn. Song, cũng từ rất sớm, người ta đă hiểu cách thắp
hương sao cho biểu hiện được tâm nguyện là chính. Người Việt xưa
tối kỵ thắp cả bó hương rồi cắm cả lên bàn thờ, v́ khói xông ngột
ngạt thường gắn với sự ô trọc, thất kính, thiếu văn hoá. Tuỳ theo
nhu cầu của việc đi lễ mà có số hương thắp khác nhau. Do tấm ḷng
thành tín trong sạch dâng lên Phật và Thần, gọi là Tâm hương,
biểu hiện trong việc thắp hương là một nén, v́ Tâm hương là ngũ
hương gồm:
+ Giới hương:
do giữ được giới (những điều quy định) mà thơm.
+ Định hương:
do từ sự thiền định (tâm không tán loạn, yêu trụ vào đạo lư,
thoát khỏi sự ràng buộc của trần thế) mà thơm.
+ Tuệ Hương:
do từ trí tuệ mà thơm (sáng suốt, thông hiểu sự và lư, dứt mê lầm…)
+ Giải thoát
tŕ kiến hương: do tự biết ḿnh thành đạo mà thơm.
Nhiều khi
chúng sinh đi lễ, đă thắp ba nén hương, đây là một biểu hiện về
nguyện cầu sự thay đổi trong xu hướng tốt lành. Tạm hiểu số ba là
số lẻ, lẻ th́ đông, dẫn tới biến đổi và phát triển.
Cũng có khi
số hương được thắp nhiều hơn như theo tám hướng, thập phương, ngũ
dinh hay theo vía (7 và 9).
Suy cho cùng
hương và lửa là biểu hiện sự sùng kính trong mối giao tiếp với
thần linh.
|
|