|
Các vết tích
cổ xưa nhất đã cho thấy tầm quan trọng có tính chất truyền thống
trong việc xây dựng bằng gạch và vật liệu nhẹ. Chúng được biết
đến do các chứng cớ vẽ trên trống đồng. Các mẫu thu nhỏ tìm thấy
ở các lăng mộ (thế kỷ thứ III-V) cho thấy sự hiện hữu của nền
kiến trúc rất tinh vi và tính phòng ngự.

Ngoài những
ngôi mộ cổ quan trọng hiện tồn, với các bình đồ ít nhiều phức tạp,
xây bằng gạch và có vòm (thời kỳ Bắc thuộc), người ta không biết
gì về những ngôi mộ đầu tiên được ghi trong các tư liệu thư tịch.
Những tháp cổ xưa nhất được mọi người biết đến (Bình Sơn) không
có trước thế kỷ XI-XII, và các vết tích xây dựng được khám phá ở
địa bàn Hà Nội cổ dường như có niên đại muộn hơn. Có ít chứng cớ
cả cho nghệ thuật thế kỷ thứ XIV và XV (các lăng mộ vua Lê ở Lam
Sơn: quần thể các lăng mộ, bia đá và tượng dựng lên từ những quan
niện của nguyên tắc phong thuỷ).

Chính từ thế
kỷ thứ XVII, chúng ta bắt gặp các thức “cổ điển” của kiến trúc
Việt Nam: chùa, đình, đền với những mái và bộ khung chạm khắc tạo
cho các toà nhà một cá tính độc đáo vượt khỏi ảnh hưởng Trung Hoa.
Nhưng khó mà biết được những biến đổi của các công trình vì chúng
được trùng tu và tái thiết nhiều lần.

Ngược lại,
Kiến trúc quân sự được biết đến nhiều với các công trình được xây
dựng vào thế kỷ thứ XVII-XVIII như thành Đồng Hới, các thành trì
khác. Mối quan hệ giữa kiến trúc và địa thế ( cụ thể như Lam Sơn)
là mối quan tâm của các nhà kiến trúc, những hoạ sĩ phong cảnh,
với những định kiến triết học hơn là thẩm mỹ.
|