|
|
Khí hậu Việt
Nam có từng mùa rõ rệt và mảnh đất này đã cung cấp biết bao hương
hoa tinh túy nuôi dưỡng con người Việt Nam. Mùa nào thức ấy, vừa
phong phú vừa đa dạng.

Trong bữa ăn
thường ngày, đồ ăn thức uống đều dọn hết ra mâm, mọi người quây
quần xung quanh. Mỗi người một cái bát, một đôi đũa, thỉnh thoảng
một chén rượu, một ly nước là của riêng, còn lại đều để chung
trên mâm. Khi ăn, chủ nhà mời khách, người dưới mời người trên,
vừa quý trọng lại vừa đầm ấm.
Mâm cơm thông
thường có món mặn, món xào và canh rau, thỉnh thoảng có thêm đĩa
dưa chua vàng ươm, dưa giá trắng tinh hay dăm quả cà pháo giòn
tan.
Món kho
thường là cá quả (cá lóc), cá bống, cá nục, cá cơm… dùng nồi đất
hay tô đá để kho với tiêu, đường, muối, bột ngọt… Thịt heo, thịt
bò, thậm chí gà, vịt cũng trở thành những món kho ngon, đặc biệt
người phương Nam thường kho với hột vịt, nước dừa làm cho món ăn
vừa ngọt lại vừa béo.
Người Nam bộ
có nhiều loại mắm được xem như đặc sản của địa phương, đó là mắm
thái Châu Đốc, mắm ruột cá Đồng Tháp, mắm ruốc Kiên Giang, Vũng
Tàu hay mắm còng, mắm tôm chà Gò Công… miền ven biển có thêm mắm
mực, mắm mòi, mắm thu…
Một loại nước
sốt không thể thiếu cho các món kho, nấu và chấm - loại “Quốc hồn,
quốc túy” của các món ăn - nước mắm.
Các món xào
bao giờ cũng có rau, củ hay quả. Rau là rau muống, rau cải (cải
xanh, cải ngọt, cải thảo, bó xôi, bắp cải…); củ có củ cải, cà rốt,
su hào, khoai tây…; còn quả gồm su su, đậu đũa, mướp đắng… Rau có
thể xào với thịt bò, thịt heo, tôm, cá, thậm chí chỉ là xào với
tỏi mà cũng rất thơm ngon.
Canh có khi
là canh rau cải, rau dền, mồng tơi, rau đay… cũng có thể là bầu,
bí luộc, mít non hầm, rau thường nấu với muối, đôi khi nấu với
tôm, cua giã nhỏ. Một món canh tiêu biểu và rất được ưa chuộng
trong bữa ăn là “canh chua”. Thôi thì đủ cả các vị - chua của me
xanh, cay của ớt đỏ, ngọt của miếng thơm vàng, tươi mát của mớ
rau sống, đôi khi chỉ là mộc mạc sau vườn của càng cua, rau đắng
hay vài nhánh lá nghệ non, một mắm lá me tươi… và thật thơm nồng
của biết bao gia vị khác. Tô canh vừa nóng, vừa ngon, lại vừa
tăng sức khỏe.
Đồ uống thông
thường là chè tàu, nước vối, nước mía, nước dừa, nước sâm, bông
cỏ… Chỉ riêng chè cũng có nhiều cách uống, lá già trên cây hái về
đun là chè tươi, búp non đem về sao khô là chè tàu, dùng nóng hay
thêm đá lạnh. Cách uống chè tàu cũng là cả một nghệ thuật được
lưu truyền lâu đời trong dân gian. Nhiều người uống chè giám
thưởng rất sành, thứ chè nào có hương vị ra sao, hợp với khí chất
thế nào, phải pha chế ra làm sao, ấm nào pha thì thơm, chén nào
uống thì ngon, lò than và siêu nấu thế nào thì nước mau sôi…,
những điều ấy, người sành chè phải nghiên cứu và phân biệt cho
tinh tường. Rồi còn có các loại chè ướp hương, nào sen, nào nhài…
Ướp hương cũng là kinh nghiệm của bao đời, từ việc lấy từng hạt
gạo trong đài sen, trộn chung chè ngon, ướp kín trong một đêm,
rồi cho vào cái túi giấy bóng kính để sao, bằng cách bọc quanh
bình nước nóng cho khô mà không mất mùi. Cứ thế năm lần, bảy lượt
mới được một ấm chè ngon, tách chè tỏa hương như có cả một ao sen
ngan ngát.
Sau bữa ăn,
người Việt Nam có thói quen “tráng miệng” bằng trái cây như chuối,
cam, quýt, nhãn, vải, dưa hấu, vú sữa… Đó là những trái cây dễ
mua, hợp khẩu vị, chứa nhiều chất bổ dưỡng cho cơ thể.
Khí hậu Việt
Nam có từng mùa rõ rệt và mảnh đất này đã cung cấp biết bao hương
hoa tinh túy nuôi dưỡng con người Việt Nam. Mùa nào thức ấy, vừa
phong phú vừa đa dạng.
|
|