|
|
Chùa Cầu Đông đă được Nhà nước công nhận di tích Lịch sử - Văn
hoá năm 1989.
Chùa Cầu Đông, từ khi được xây dựng đă trải qua nhiều bước thăng
trầm của lịch sử, chùa được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Qua các
tấm bia của chùa cho thấy, chùa Cầu Đông được sửa chữa lớn và mở
rộng vào năm Vĩnh Tộ thứ 6 (năm 1624), năm Dương Hoà thứ 5 (năm
1639), năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (năm 1712), năm Gia Long thứ 15 (năm
1817) và một số lần sửa chữa nh khác.
Kiến trúc của chùa hiện nay được kết cấu theo kiểu kiến trúc của
thời kỳ đầu nhà Nguyễn, song vẫn phảng phất dấu vết của thời cuối
nhà Lê. Các mảng chạm bong, chạm nổi, được thể hiện tập trung
trên v́ kèo ván mê và hai cốn, cửa gian tiếp giáp giữa tiền đường
và hậu cung. Các nét chạm mặt hổ phù, rồng, mây, hoa lá… là sự kế
thừa nghệ thuật chạm khắc của thế kỷ XVII - XVIII.
Chùa Cầu Đông cũng như nhiều ngôi chùa cổ khác của làng xă Việt
Nam là nơi thờ Phật, một tôn giáo từ lâu đă phát triển ở Việt
Nam.
Chùa Cầu Đông có gần 60 pho tượng. Bộ tượng Tam thế được tạo tác
vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, h́nh thức gần giống nhau. Đây là
3 pho tượng đẹp, quí hiếm, đạt giá trị nghệ thuật cao.
Trên Phật điện c̣n có pho tượng Tuyết Sơn. Pho tượng Tuyết Sơn có
nét điêu khắc đẹp, tinh tế, gần gũi với tượng Tuyết Sơn của chùa
Tây Phương (huyện Thạch Thất), của chùa Nành (huyện Gia Lâm).
Thân tượng được tạc theo kiểu áo buông lửng trên vai, để lộ tấm
thân gầy guộc, nhưng vẫn toát lên vẻ thanh tao.

Cùng với Pho tượngTuyết Sơn là Pho tượng Phật Di Lặc to gần bằng
người thực, khuôn mặt với nụ cười rạng rỡ, bụng phệ. Chiêm bái
Pho tường Phật Di Lặc, ta như thấy được sự no đủ, hoan hỉ. Ngoài
ra, trong chùa c̣n có bộ tượng Thiên thủ Thiên nhăn, Pho tượng
Phật Thích ca sơ sinh cùng toà Cửu Long và các pho tượng thờ
Thánh Mẫu…
Đặc biệt, ở chùa Cầu Đông - Hà Nội c̣n một ban thờ có Danh tướng
Trần Thủ Độ và phu nhân Trần Thị Dung, là những người có công lớn
trong sự nghiệp mở mang nghiệp lớn ở thời nhà Trần.
Phần đóng góp không nhỏ để nâng cao giá trị di tích chùa Cầu Đông
là hệ thống các bia, bia đá cổ, có 3 bia đá của thời nhà Lê, bia
cổ nhất có niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 6 (năm 1624) cùng quả chuông Tây
Sơn (năm1800) niên hiệu Cảnh Thịnh. Đây là những di vật cổ quí
giá, giúp chúng ta t́m hiểu về quá khứ, địa danh, địa lư, nghệ
thuật trang trí, tôn giáo, về sự phân hoá giai cấp, về ruộng đất
của xă hội đương thời.
|
|