|
|
Trải qua những giai đoạn phát triển của lịch sử, các sản phẩm gốm
ngày càng đạt đến trình độ và kỹ thuật thẩm mỹ cao, được thể hiện
ở ba loại: gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men
ngọc. Với những thành tựu như vậy, có thể thấy rằng, gốm Việt Nam
không thua kém gốm nước ngoài về giá trị niên đại và giá trị nghệ
thuật.
Gốm trong đời sống con người
Gốm rất gần gũi với con người. Từ xa xưa, người ta đã coi đó là
thứ đồ dùng hàng ngày đồng thời là thứ đồ có giá trị hay dùng để
trang trí... Gốm có ở bất kỳ đâu từ chốn cung đình lộng lẫy đến
mỗi ngôi nhà dân dã. Đối với người dân thường, chum, vại, chậu,
bình... dùng để chứa nước, trồng cây, muối dưa cà. Còn đối với
vua chúa hay hàng quan lại trong triều thì gốm làm công phu hơn
rất nhiều và ngoài những tác dụng vốn có, dưới bàn tay tài hoa
của người thợ, gốm biến thành những thứ đồ trang trí quý giá.
Cho tới nay, mặc dù có hàng trăm, hàng nghìn loại sản phẩm mới
được sản xuất, phục vụ cho đời sống của con người nhưng đồ gốm
vẫn luôn hiện diện trong hầu hết các gia đình người Việt. Đó
chính là lý do mà các lò gốm tồn tại và ngày càng phát triển. Với
bàn tay khối óc, con mắt nghệ thuật tinh tế cộng với sự nỗ lực,
người thợ đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bằng gốm không
những thể hiện được tinh hoa văn hoá dân tộc từ bao đời truyền
lại mà còn thổi vào gốm cái hồn riêng sống động.
Nghề gốm ở Việt Nam trải khắp trên mọi miền đất nước, miền Bắc có
gốm Bát Tràng (Hà Nội); gốm Đông Triều (Quảng Ninh); gốm Thổ Hà,
Phù Lãng (Bắc Ninh); gốm Hương Canh (Vĩnh Phúc); Lò Chum (Thanh
Hóa)... ở miền Trung có gốm ở làng Bầu Trúc (Ninh Thuận); miền
Nam có gốm Sài Gòn, gốm Bình Dương, gốm Biên Hòa (Đồng Nai)...
Sản phẩm gốm của Việt Nam rất phong phú, từ những vật nhỏ như lọ
đựng tăm, bát, đĩa... những sản phẩm cỡ trung bình như lọ hoa,
tượng phật, thiếu nữ, bộ ấm trà, chậu cảnh đến những sản phẩm cỡ
lớn như lọ độc bình, đôn voi, chum, choé... Tuy gốm hiện đại cũng
có một số nét thay đổi nhưng về cơ bản vẫn giữ được truyền thống
và linh hồn của gốm xưa. Có thể coi gốm là dấu ấn của nền văn
minh lúa nước, nền văn hóa thuần Việt.
Một số loại gốm tiêu biểu
Gốm đất nung
Đó là một số loại điển hình như: Gốm Phùng Nguyên, Gốm Đồng Đậu,
Gốm Gò Mun...
Giai đoạn Phùng Nguyên tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ
II trước CN (công nguyên). Gốm Phùng Nguyên có những nét khắc
tinh xảo, chủ yếu là hoa văn răng lược, khắc vạch, làn sóng, một
số thiên về lối hình học. Tổ tiên của chúng ta đã biết dùng màu
đất trắng và màu đá son tô thắm lên bề mặt hình khắc của gốm
trước khi nung, đã biết nung độ lửa già nhất của đất nung.
Giai đoạn Đồng Đậu ở vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ II trước CN.
Gốm Đồng Đậu có hoa văn đa dạng: xoắn ốc, răng cưa, đường chấm
song song, hình trám in...
Giai đoạn Gò Mun tồn tại vào nửa đầu thiên niên kỷ I trước CN.
Gốm Gò Mun có nhiều hoa văn hình học. Nhiều hoa văn bắt chước hoa
văn trên đồ đồng.
Gốm Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun không chỉ phong phú về hoa văn,
mà còn phong phú về hình dáng. Nhiều hình dáng cho đến sau này
vẫn còn được bảo tồn trong các lò gốm dân gian, như: loại vò có
miệng loe đứng, cổ cao, bụng nở (Đồng Đậu); loại vò, nồi có miệng
loe rộng, cổ ngắn, bụng nở (Đồng Đậu); bát, bình, cốc, ống nhổ
chân thấp, chân cao (Phùng Nguyên)...
Trong thời đại đồng thau phát triển rực rỡ, gốm đất nung trang
trí ngày một công phu và có xu hướng bắt chước đồ đồng, nhất là
về mặt hoa văn. Điều đó khẳng định rằng nghệ thuật dân gian đã
tồn tại và phát triển từ trong cuộc sống của quần chúng, thường
được thể hiện rộng rãi từ những chất liệu, đồ dùng thông thường
nhất (như đồ mây tre tiếp đến là đồ đất nung). Vì thế, nghệ thuật
đất nung bắt chước nghệ thuật đồ đồng, không hề làm giảm mà ngược
lại còn làm sáng tỏ thêm phong cách nghệ thuật đồ đồng cùng thời.
Gốm hoa nâu
Theo các nhà nghiên cứu, gốm hoa nâu có từ trước thế kỷ XI, ra
đời cùng với gốm men da lươn. Gốm hoa nâu, thường thuộc loại sành
xốp, men ngà bóng, hoa văn màu nâu. Hoa được khắc vạch trên xương
đất ướt trước khi tô màu. Cũng có loại nền nâu, hoa văn trắng.
Dần về sau, gốm hoa nâu được thể hiện theo nhiều kỹ thuật khác
nhau, nhưng căn bản vẫn là những chất liệu: men tro, đá son, đá
thối hoặc rỉ sắt, hoàn toàn giống nguyên liệu của gốm men da lươn.
Đặc điểm phong cách của gốm hoa nâu là hình dáng đầy đặn, chắc
khỏe, phù hợp với lối khắc, lối tô mảng to mảng nhỏ sâu nông tùy
ý. Đề tài trang trí gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống con người:
tôm, cá, voi, hổ, chim khách, hoa sen, hoa súng, lá khoai nước,
lá râm bụt, võ sĩ đấu giáo, cưỡi voi,...
Giai đoạn tiêu biểu nhất của gốm hoa nâu, về mặt nghệ thuật cũng
như kỹ thuật, là từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII. Nó mang rõ nét của
loại gốm hoa nâu rất Việt Nam, không một loại gốm nước ngoài nào
lẫn lộn được. Chỉ một màu nâu mà tạo ra nhiều sắc thái, không đơn
điệu.
Gốm men ngọc
Gốm men ngọc thịnh hành vào thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIV. Gốm
men ngọc với hoa văn khắc chìm hoặc in nổi chủ yếu trong lòng bát,
lòng đĩa dưới mầu men ngọc trong suốt, cho ta một vẻ đẹp dịu dàng
sâu đậm.
Đề tài trang trí thường là hoa lá, chim phượng, một số ít có hình
người lẫn trong hoa lá. Hoa văn men ngọc có ảnh hưởng nhiều của
hoa văn chạm khắc lên đá đương thời.
Gốm hoa lam
Gốm hoa lam có từ cuối thế kỷ XIV. Hình dáng và bút pháp ban đầu
rất đơn giản. Mầu lam dưới men lộ rõ sắc, men bám chặt vào xương
đất có độ rắn cao. Đó là loại "sành sứ" được phát triển cho đến
ngày nay, tuy phong cách mỗi thời đều có thay đổi.
Gốm hoa lam thường trang trí dưới men, nhưng không khắc vạch, và
chỉ vẽ lối nhẹ nhàng như thủy mặc. Vẻ đẹp tiêu biểu của gốm hoa
lam là lối vẽ phóng bút trên các lọ hoa, chân đèn, bát đĩa to
hoặc nhỏ. Đề tài trang trí thường là rồng, phượng, mây, hoa sen,
hoa cúc dây...
Với mầu lam ngả về xám trên nền trắng hơi ngà, hình dáng của loại
gốm này cũng có nhiều cái đẹp độc đáo: bát, chén, đĩa chân rất to
và rất cao; chân đèn, lọ hoa dáng khỏe mà thanh nhã. Đặc biệt từ
giữa thế kỷ XV, một số chân đèn, lư hương, lọ hoa, con giống
không những khắc niên đại mà có khi còn khắc cả tên người làm. Đó
là điều rất hiếm trong nghệ thuật cổ đại Việt Nam.
Gốm vẽ mầu trên men và gốm nhiều men mầu
Gốm vẽ mầu trên men dường như chỉ để xuất khẩu. Hiện nay, mới
phát triển các loại bát đĩa với hình dáng và xương đất giống các
loại gốm hoa lam ở thế kỷ XV, XVI. Mầu trên men chủ yếu là mầu đỏ
đậm, mầu xanh đồng, mầu lam nhạt.
Gốm nhiều men mầu, thịnh nhất và đẹp nhất là ở thế kỷ X, XVII.
Giai đoạn này, nghệ thuật điêu khắc gỗ ở các đình chùa đạt đến
đỉnh cao. Gốm dùng vào việc thờ cúng giống như điêu khắc gỗ; rất
nhiều lư hương, chân đèn, gốm chạm trổ công phu với đề tài rồng,
phượng, hạc, tôm, cá, người.... Hiện vật được phủ các mầu men
vàng đậm, xanh đồng, lam, trắng ngà chảy bóng và trong suốt quyện
vào nhau. Tất cả tạo nên một hòa sắc quý và đẹp đặc biệt Việt
Nam.
Hiện nay, trong khi gốm của một số nước khác đang xâm nhập vào
thị trường trong nước và cạnh tranh với gốm Việt Nam, gốm Việt
vẫn giữ được nét đặc sắc, thương hiệu riêng. Bên cạnh một số làng
gốm đang dần bị thương mại hóa, vẫn còn rất nhiều trung tâm làm
gốm luôn vượt qua khó khăn, sản xuất và ngày càng phát triển, đem
sản phẩm gốm chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước.
|
|