|
Từ bao đời
nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi
người dân Việt, là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói và mọi
đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế
kỷ. Kiến trúc đình làng vì vậy mang đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo
và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống.

Đình làng là
kiến trúc lớn nhất ở nông thôn, một ngôi nhà công cộng gắn với
dân làng (thành hoàng làng). Việc làng và hội làng thường xảy ra
ở đình. Khởi đầu, đình là một kiến trúc mang chức năng đón nhận
người qua lại, vì đình có nghĩa là dừng. Thuở xưa, chúng là những
quán nhỏ công cộng bên đường làm nơi tạm nghỉ cho khách bộ hành
hay nơi tránh mưa nắng cho người đi cày. Dần dần, chúng chuyển
thành mộ dạng nhà đặc biệt để mang nhiều chức năng mới như Dịch
đình là nơi tạm trú cho khách phương xa, như để chờ đợi trước khi
được vào chầu vua, đôi khi cũng gọi là quán đình, Phương đình là
những ngôi nhà có mặt bằng hình vuông và thường có hai tầng mái.
Còn đình làng
là một dạng kiến trúc khá đặc biệt, như của riêng người Việt.
Khởi đầu đình là sản phẩm của chính quyền, nó mang tư cách như
một trụ sở trong mối quan hệ với quần chúng. Sau đó, chúng đã trở
thành một thực tế văn hoá của một số làng xã. Ngoài chức năng trụ
sở của chính quyền để ban bố chính lệch của triều đình, thì việc
thờ thành hoàng làng đã gắn bó chặt chẽ với đình làng.
Việc Việt hoá
và dân dã hoá vị “Thành Hoàng” bằng cách triều đình “tấn phong”
cho các thần linh của thôn xã chức Thành hoàng làng đã góp phần
thúc đẩy ngôi đình dần chiếm địa vị trung tâm sinh hoạt văn hoá
trong xã hội nông thôn Việt để tới nay đình nhiều khi mang tư
cách là biểu tượng quê hương.
Văn hoá đình
Việt Nam rõ ràng có tính hoàn toàn độc lập của một cộng đồng xã
hội biết tổng hợp dung hòa mọi nền văn hóa khác thành một nét văn
hóa riêng nhằm phục vụ an ninh cho dân tộc mình, trong ấy, yếu tố
chủ yếu vẫn là thờ cúng những người có công với xã hội, với dân
làng.
|