|
|
Ngay từ khi
con người bắt đầu hiểu biết, họ đă cảm thấy h́nh như có một thế
lực nào đó, siêu nhiên, chi phối được tới cuộc sống của ḿnh. Thế
lực ấy vô h́nh nhưng bất biến, cao điệu, đầy quyền năng và có đâu
đó tận miền trời xanh.

Vàng mă đi sâu vào phong tục thờ cúng của người Viêt
Phát hiện lửa
khói, ở lĩnh vực tinh thần, con người mới như giải quyết được
niềm ước vọng tiếp cận với thần linh. Những cuộc lễ lạt phức tạp
dần theo ḍng trôi chảy của lịch sử và xă hội, để rồi mọi của cải
dễ dàng được quy tụ về nơi thần điện. Việc sử dụng vàng mă ở Việt
Nam là ảnh hưởng từ Trung Hoa. Lịch sử Trung Quốc cho biết rằng:
thời thượng cổ, người chết thường đuợc bó bằng cây củi, rồi đem
để nơi hoang vắng, tới đời Hoàng đế (1697 Trc CN) mới đem chôn.
Đương thời người ta quan niệm chết là chuyển kiếp sang sống ở cơi
khác. V́ thế, dần dần người chết cũng được chia của để chôn theo.
Thời nhà Ân (1765 Trc CN) đồ tế khí là đồ dùng thực trong cuộc
sống, song, dần dần đồ thiết dụng không đủ cho cả người sống,
nên đến nhà Chu (1122 Trc CN), khi xă hội quư phái (từ Thiên tử
cho tới đại phu) và tiện dân (từ sĩ phu đến thứ dân) th́ đồ tế
khi cũng “phân hoá”.
Quư phái mới
được chôn theo đồ tế khí (đồ thật) c̣n tiện chỉ dùng quỷ khí (quỷ
khí đă có từ thời nhà Hạ 2205 Trc CN) và có thể coi quỷ khí là
tiền thân của đồ mă về sau. Thời này, vua quan ăn chơi tàn bạo,
khi chết thường chôn theo những người được vua yêu thích một câu
chuyện đau thương kể rằng: Tấn Mục Công (Khắc Nhâm) chết, tất
nhiên sẽ chôn sống theo vua ba người anh em họ, mà sinh thời Mục
Công yêu quư. Nhưng, nhân dân nước này rất thương tiếc ba hiền
tài và hàng trăm người nguyện thế mạng. Để yên ḷng dân, người ta
đă làm h́nh người bằng cỏ để thay thế. Đó là một bước tiến gần
hơn tới việc khẳng định sự cần thiết của đồ mă.
Năm 105,
Trung Quốc phát minh ra giấy, nhưng phải tới năm Khai Nguyên thứ
26 (nưm 737), vua Huyền Tôn mới sử dụng sáng kiến của quan trưởng
sử là Vương Dư làm mă vàng bạc, giấy tiền…để thay thế đồ thật
dùng trong tang ma tế tự. Từ đó những h́nh tượng về con người
liên quan, áo quần, nhà cửa, vật dụng, súc vật…. Cũng được làm
bằng giấy để thay thế vật thực.
Từ đây đồ
vàng mă h́nh thành và phát triển.
Suy cho cùng,
trong buổi khởi nguyên, đồ vàng mă, ở mặt nào đó, đă mang tính
tiến bộ, tiết kiệm được vật dụng, hạn chế được sự tàn ác, đáp ứng
được nhu cầu về tâm linh của nhiều người. Song, vượt qua giai
đoạn đầu này, nhất là khi vai tṛ của thương mại ngày một phát
triển, đă góp phần đẩy nhanh hiện tượng “thánh một cân, trần một
yến” khiến cho đồ vàng mă “lên ngôi” trong sự tiêu cực xă hội.
Đồ mă Việt có
nhiều loại, tích cực cũng có (như đồ chơi rằm tháng tám). Mà tiêu
cực th́ khá nhiều (phục vụ tín ngưỡng). Với lập luận “dương sao
âm vậy”, người ta đă đẩy đồ mă ra khỏi ư nghĩa khởi nguyên, lo
hồn người đă chết thiếu thốn, và nhất là xuất phát từ “ghen vợ
ghen chồng không bằng ghen đồng ghen bóng” mà đồ mă được đua nhau
làm nhiều làm lớn để gửi sang thế giới bên kia, hoặc để “hối lộ”
cho thần linh. Suy cho cùng, vàng mă vừa đủ sẽ làm đẹp bàn thờ,
biểu hiện ḷng tôn kính. Vàng mă đủ loại, tân cổ giao duyên,
nhiều quá giới hạn, chỉ dẫn tới mê tín dị đoan, trần tục hoá thần
linh, làm nặng nề cho kiếp đời đă qua, và kẻ có lợi ích chỉ là
bọn đồng cốt.
- Ngày xuân,
vàng mă được đua nhau đem tới thiêu hoá ở các di tích tín ngưỡng.
Và, tới nay kinh tế thị trường đă góp phần làm xô bồ trong lễ băi,
để cho sau giao thừa, bên cạnh tục đốt vàng mă th́ cây cỏ ở nhiều
di tích c̣n bị xơ xác v́ tệ hái lộc. Thực ra, cành cây non, con
hươu cũng gọi là lộc, đồng âm với lộc về của cải và tước lộc, nên
cây bị mang vạ. Trong tạo h́nh xưa vào cuối thế kỷ XVII ở đền Phù
Đổng đă có h́nh tượng bắt hươu và bắn chim với hàng chữ đề bên
“Quân tử trúc tố tâm phùng mỹ lộc, trượng phu tùng ngưỡng diện xạ
phượng hoàng”. Song hươu đâu dễ bắt, nên trước giao thừa, tâm
thanh thản, ông chủ gia đ́nh thường lên chùa lễ Phật rồi khi giao
thừa xin một cành non gọi là lộc cầu may, đem về lấy khước, tất
nhiên cành lộc đă được nhà chùa chuẩn bị. Tới nay, do hiểu sai ư
nghĩa, nhiều người tới bẻ vội một cành cây, càng to càng tốt, và
đă đẩy một hiện tượng văn hoá sang lĩnh vực thô tục với ḷng tin
thô thiển.
- Một hiện
tượng khá phổ biến khác trong tục đầu xuân là xin thẻ. Trước đây
người xin thẻ đem đồ lễ, vàng hương lên lễ Thần Phật, khấn việc
cầu xin rồi cầm ống thẻ sóc sao cho bật ra một que (thẻ thường là
que tre vot mỏng, có ghi/khắc số ở đầu cắm vào ống), theo số thẻ
mà xin tờ quẻ, trong đó có ghi về: bản mệnh, gia trạch, cầu danh,
cầu hôn, cầu tự, phần mộ, cầu tài, xuất hành, tật bệnh, thất vật…
Xin quẻ thẻ là một hiện tượng thông linh, t́m lời mách bảo của
thần về vận mệnh của ḿnh trong năm. Nhưng nếu tin tưởng tuyệt
đối vào lời thẻ th́ thường người ta dễ thụ động với cuộc sống,
dẫn đến lo lắng hoặc vui mừng vu vơ, thiếu bản lĩnh.. Ngày nay
việc lấy thẻ càng trở nên nhảm nhí, nhiều kẻ lợi dụng ḷng tin
của khách hành hương (nhất là ở chùa Hương) mà bán thẻ ở ngoài
đền, với đầy lời bịp bợm. Xin thẻ là hiện tượng mê tín dị đoan
của những người văn hoá thấp.
Ba hiện tượng
trên khi xem xét trong thực tiễn đều phải xử lí rất cẩn thận và
kiên quyết. Bởi lẽ, một số người cho người những hiện tượng này
gắn bó với văn hoá tâm linh và tín ngưỡng của người dân. Thực ra,
vấn đề không phải như vậy. Thông tư hướng dẫn thực hiện nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội của Bộ văn hoá
Thông tin do Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điểm kư ngày 11/7/1998 đă ghi
rơ: “Cấm đốt đồ mă (h́nh nhân, nhà lầu, xe cộ, đô la, séc…) tại
các di tích lịch sử văn hoá và trong ngày hộ”. Đó là công việc mà
mọi người dân phải triệt để tuân theo. |
|